viewtronic
02-16-2008, 03:18 PM
Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ DC., PhD.
Trước khi chưa tìm ra Vitamin, con người phải chịu khổ sở về một số bệnh như Pellagra (bệnh tróc vẩy ở da, tiêu chảy, lở miệng), Scurvy (chảy máu ở lợi, rụng răng, phù, đau các khớp xương, xương phát triển không bình thường), bệnh quáng gà (không thể nhìn thấy về đêm), Ricket (bệnh thiếu Calcium), làm cho sưng gan, đau mình, sốt, xương mỏng biến dạng dễ gẫy. Những bệnh này hoành hành như là một bệnh dịch làm chết cả một làng, một đội quân, các thủy thủ trong một chiếc tàu.
Những chứng tích lịch sử ghi nhận trên những bức tường cổ Ai Cập hơn năm ngàn năm về trước có vẽ những hình khuyên ăn gan gia súc, cầm thú có Vitamin A để tránh bệnh mù. Những hình vẽ thượng cổ Trung Hoa ghi nhận cách chữa bệnh vẹo xương Ricket, một loại bệnh thiếu Vitamin D. Thời kỳ đế quốc Hy Lạp có viết cả một thành phố chịu khổ đau về bệnh chảy máu lợi bể các mạch máu dưới da, bệnh Scurvy thiếu Vitamin C. Bệnh Scurvy đã giết chết 626 thủy thủ trong cuộc hành trình vòng quanh thế giới của Sir George Anson vào năm 1747. Bệnh phù thũng Beriberi đã tàn phá nước Nhật vì ăn toàn gạo giã, thiếu Vitamin B1 vào thế kỷ thứ 19, mãi tới năm 1887 ông Takaki mới tìm ra cách chữa bệnh phù thũng Beriberi bằng cách dinh dưỡng. Vào cuối thế kỷ thứ 19, khoa học rầm rộ phát triển, nhiều lý thuyết nổi tiếng ra đời, nhiều phát minh khoa học được tìm thấy: Darwin đưa ra lý thuyết biến thiên (Theory of Evolution). Freud đưa ra lý thuyết nhân vị. Pasteur, Kock, Metchnikoff đưa ra lý thuyết vi trùng sinh ra bệnh tật (Germ Theory of Diseases) và sản xuất ra nhiều loại thuốc chữa được nhiều loại bệnh dịch. Tất cả những quan niệm trên làm nền tảng cho sự hiểu biết và tìm kiếm ra Vitamin.
Năm 1911 nhà sinh hóa học người Ba Lan ông Casimir Funk nghiên cứu các loại bệnh Scurvy, Benberi, Rickets, Pellagra đã đưa tới kết luận là nguyên do chính là thiếu dinh dưỡng. Mặc dầu thời đó các chất đường chất đạm chất béo đã được nhìn nhận là thực phẩm căn bản. Ông Funk đề nghị rằng một loại cần thiết thứ tư, tuy rất ít nhưng rất cần thiết cho cơ thể không có không được ông ta gọi là Vitamin.
Năm 1913 Osborne, Mendel (3) McCollum và David (2) nghiên cứu riêng rẽ đã tìm ra trong dầu gan cá, trong bơ và lòng đỏ trứng một loại dinh dưỡng tan được trong chất béo gọi là Vitamin A. Sau đó thêm ba loại Vitamin có thể tan trong dung dịch chất béo và chín loại Vitamin tan trong dung dịch nước (1). Ngày nay Vitamin được coi rất quan trọng trong vai trò dinh dưỡng .
Định nghĩa
Vitamin là một hợp chất hữu cơ có rất ít trong các chất dinh dưỡng nhưng rất cần thiết cho từng giai đoạn của sự biến tạo thực phẩm trong tế bào để tăng trưởng và duy trì đời sống. Cơ thể không thể tự điều chế ra được mà phải ăn từ những thực phẩm, ngoại trừ Vitamin D có thể điều chế khi có ánh mặt trời nhưng phải có các chất tiền dẫn trong da thịt, một vài loại Vitamin khác như Vitamin K, B12, Thiamin, có thể do các vi trùng, vi khuẩn trong ruột tạo ra và hấp thụ vào máu. Vitamin không tạo ra Calori, không làm cho cơ thể tăng trưởng có nghĩa là nếu cơ thể nhịn ăn mà uống thuốc bổ không giúp ích được gì cho sự tăng trưởng và tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động.
Nhu cầu Vitamin trong cơ thể của mỗi loại động vật và con người khác nhau thí dụ như: người, khỉ, heo cần Vitamin C trong khi đó chó, chuột, thỏ cơ thể chúng có thể tự tạo ra Vitamin C được. Nếu thiếu Vitamin trong đồ ăn, hoặc bộ máy tiêu hóa không hấp thụ được vào máu để nuôi cơ thể thì sẽ sinh ra một số bệnh đặc biệt.
Phân loại và đặt tên
Vitamin được chia làm hai loại:
***Loại có thể hòa tan trong các chất béo như rượu và Eter gồm Vitamin A, D, E, và K.
****Loại có thể hòa tan trong nước gồm các loại Vitamin B và C.
---------------------------
Danh mục : Vitamin được đặt theo mẫu tự A, B, C
Sau khi đã phân chất được tính chất hóa học của vitamin, người ta đã bắt đầu đặt tên theo sự cấu tạo hóa chất để dễ phân biệt và hiểu được đặc tính, càng ngày càng nhiều Vitamin được tìm ra và biến chế theo các phương trình hóa học, sự đặt tên càng phức tạp. Tuy nhiên các nhà khoa học trên thế giới đã thỏa thuận giữ nguyên các tên nguyên thủy theo mẫu tự và kèm thêm vào đó tên khoa học như: Vitamin A (Retinol), B1 (Thiamin), C (Ascorbic acid), D (Calciferol) v.v...
Sự phân loại và danh mục các loại Vitamin được trình bày trong các phần kế tiếp dựa trên quyết định của IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry) thỏa thuận vào năm 1957. Và chỉ trình bày các loại Vitamin ảnh hưởng đến cơ thể con người.
Sau đây là phần tóm lược, danh mục, công dụng của các loại Vitamin do ông Cheldelin xếp loại vào năm 1951:
Vitamin A: Ngăn ngừa được bệnh quáng gà Nyctalopia, bệnh khô mắt Xerophthalmia, bệnh hoa mắt không nhìn rõ khi có nhiều ánh sáng Hemeralopia. Rất cần thiết cho tế bào tăng trưởng. Gồm có các loại có tên như Retinol, Retinoic acid, 3-dehydroretinol.
Vitamin B: Nguyên thủy dùng để chữa bệnh phù thũng Beriberi, hiện nay có rất nhiều công dụng được gọi là Vitamin B Complex.
Vitamin B1: Chữa bệnh Beriberi, và các bệnh đau nhức thần kinh. Được gọi là Thiamin tại Hoa Kỳ và Aneurine tại Anh Quốc.
Vitamin B2: Kích thích sự tăng trưởng, ngăn ngừa bệnh ngứa mắt, lở mép, lở tai. Được gọi là Riboflavin.
Vitamin B3: Ngừa bệnh Pellagra, thần kinh suy nhược. Được gọi là Niacin hay Nicotinic Acid.
Vitamin B4: Giúp cho các bắp thịt của chuột và gà khỏi suy yếu là hợp chất vừa Riboflavin và Pyridoxol.
Vitamin B5: Giúp cho biến năng các chất đạm, đường, béo, được gọi là Pantothenic acid.
Vitamin B6: Cần thiết cho các hoạt động biến năng, tăng trưởng, thiếu máu, các bệnh về da, về thần kinh. Được gọi Peridoxine, Peridoxal, Peridoxamine.
Vitamin B7: Cần thiết cho sự thủy giải các chất béo, chất đạm, đào thải các thán khí. Được gọi là Biotin.
Vitamin B8: Adenylic acid, hiện không còn được kể là Vitamin.
Vitamin B9: Cần thiết cho hồng huyết cầu và sinh phân Nucleic acid. Được gọi là Folacin, Folic acid.
Vitamin B10: Giúp cho gà và chim mau lớn, gồm hợp chất Cyanocobalamin và Pteroylmonoglutamic.
Vitamin B11: Giúp cho gà và chim mau lớn hợp chất giống như B4
Vitamin B12: Chữa bệnh máu hồng huyết cầu không được bình thường ở con người, giúp cho súc vật mau lớn, được gọi Cyanocobalamin.
Vitamin B13: Chưa được xác nhận.
Vitamin B14: Chưa được xác nhận.
Vitamin B15: Chưa được Hoa Kỳ công nhận. Được dùng nhiều tại Nga và các nước khác để chữa bệnh tim và mạch máu gọi là Pangamic acid (23).
Vitamin C: Chữa được Scurvy, được gọi là Ascorbic acid.
Vitamin D: Chữa bệnh Rickets gọi là Calciferol.
Vitamin E: Ngăn ngừa ốc-xýt hóa, giữ cho hồng huyết cầu khỏi bị tiêu hủy. Ngừa bệnh bất lực trong động vật. Được gọi Alpha, Beta-tocopherols.
Vitamin F: Cần thiết cho Fatty acid, và ngăn cứng động mạch trong động vật dùng nhiều ở Âu Châu.
Vitamin G: Không còn được dùng cho Riboflavin.
Vitamin H: Không được dùng cho Biotin.
Vitamin I: Ngăn ngừa bệnh không tiêu hóa trong chim bồ câu.
Vitamin J: Ngừa bệnh sưng phổi còn được gọi Vitamin C2.
Vitamin K: Ngừa bệnh máu loãng, giúp cho diễn trình đông máu. Được gọi Phyuoquinone, Menaquinone.
Vitamin L: Cho rằng cần thiết cho sự tạo ra sữa. Có thể liên hệ đến Anthranilic acid, Adenosine.
Vitamin M: Ngừa thiếu máu và thiếu bạch huyết cầu của khỉ. Gọi là Pteroylmonoglutamic acid.
Vitamin N: Đã bị bỏ, tin rằng có thể chữa ung thư.
Vitamin P: Không được gọi là Vitamin, giúp cho mạch máu khỏi bị bể.
Vitamin R: Giúp cho vi trùng tăng trưởng, liên hệ với Folic acid.
Vitamin S: Giúp cho gà mau lớn
Vitamin T: Giúp cho chuột mau lớn.
Vitamin U: Chữa được ghẻ lở.
Vitamin V: Giúp cho vi trùng tăng trưởng mau.
Đơn vị đo lường số lượng Vitamin mỗi loại cần thiết cho cơ thể được dùng là I.U. (The Intemational Unit) cho Vitamin A, D, E, các loại khác dùng Milligram là đơn vị đo lường. Riêng về Vitamin A, vì tính chất hấp thụ của các loại tiền chế Vitamin (Provitamine) trong cơ thể, năm 1967 các chuyên viên của FAO/WHO đã quyết định lấy Microgram của Retinol làm đơn vị thay cho I.U. trong thí nghiệm gọi là R.E. (Retinol Equivalent):
1 Retinol Equivalent = 6Èg Beta Carotene = 1Èg tiền chế Vitamin A Carotenoids = 3.33 I.U. Vitamin A rút từ Retinol = 10 I.U. Vitamin A rút từ B-carotene.
---------------------------
Vai trò của Vitamin
Vitamin có trách nhiệm hỗ trợ cho dinh dưỡng trong diễn trình biến năng của cơ thể gồm có thay thế và kiến tạo các tế bào trong cơ thể gọi là sự biến sinh và phân hóa các thực phẩm ra thành năng lượng, tồn trữ và sử dụng cho các hoạt động của cơ thể được gọi là sự tạo năng. Rõ ràng hơn, Vitamin giúp cho các chất béo, chất đường biến đổi ra thành năng lượng, giúp cho sự tạo thành các tế bào trong cơ thể như tế bào xương, tế bào bắp thịt, thần kinh v.v...
Ngoài ra Vitamin còn là một chất khích điều tố có trách vụ tác động một chất điều tố khác hoạt động. Không có khích điều tố, nhiều phản ứng hóa học quan trọng trong cơ thể không thể thành hình được.
Trong các thực phẩm được đem vào cơ thể hàng ngày thường không đủ các Vitamin, do đó việc uống thêm các Vitamin cho đủ số Vitamin cần thiết cho cơ thể là điều quan trọng, đặc biệt với các trẻ em đang lớn, các bà có thai cho con bú, người đang bị bệnh nhất là các bệnh về thiếu dinh dưỡng. Uống nhiều Vitamin quá cũng không giúp ích được gì, như các loại Vitamin có thể tan trong nước thì khi uống quá nhiều sẽ bị bài tiết qua tiểu tiện. Quá nhiều Vitamin có thể tan trong chất béo đưa đến tích trữ thặng dư trong cơ thể và sinh ra bệnh. Do đó nhiều công trình nghiên cứu để ấn định tiêu chuẩn cần thiết cho các loại Vitamin được dùng tối đa, an toàn cho một ngày được gọi là “đề nghị tiêu chuẩn dưỡng sinh” cho từng loại Vitamin. Từ đó, các nhà bào chế đã căn cứ vào các chất cấu tạo theo phương trình điều chế hóa học của Vitamin để điều chế ra các loại Vitamin biến chế. Những loại Vitamin biến chế nầy được điều chế tại các phòng bào chế thuốc có tác dụng tương tự như các loại Vitamin thiên nhiên trong thảo mộc hoặc trong động vật.
Vitamin có đặc tính dễ bị triệt tiêu khi nấu ở nhiệt độ cao, hoặc lâu và dễ tan trong nước nấu đồ ăn. Tránh nấu ở nhiệt độ cao có không khí và Vitamin dễ mất đặc tính nếu đồ ăn quá nhiều chất kiềm. Các loại rau nên hấp giữ được Vitamin. Nếu đem cắt nhỏ, nghiền nát và không để trong tủ lạnh các đồ ăn, rau đậu là nguyên do chính mất các chất Vitamin
---------------------------
Nguyên nhân thiếu Vitamin
Thiếu Vitamin có thể được phân loại: Những loại người thiếu ăn, ăn không đầy đủ chất bổ dưỡng, cơ thể không tiêu hóa và hấp thụ được chất bổ dưỡng, có thể bệnh hoạn không biến chế được các chất bổ dưỡng, và sau cùng là không đáp ứng được cơ thể đòi hỏi.
Thiếu ăn: Thế giới hiện nay trên sáu tỷ người có tới trên ba phần tư nhân loại đang trong tình trạng thiếu ăn. Sự thiếu ăn chính là thiếu toàn bộ số lượng thực phẩm đem vào cơ thể hàng ngày. Do đó số lượng Vitamin cần thiết cho cơ thể bị thiếu. Hàng ngày trung bình số lượng cần thiết đem vào cơ thể để có thể biến năng ra được khoảng 3.000 kcal cho các hoạt động bình thường trong ngày, thì những người sống trong khu vực thiếu ăn, hoặc nghèo đói chỉ có thể ăn để biến năng ra được khoảng 1.500kcal, phần lớn những năng lượng nầy được sử dụng hết cho hoạt động hàng ngày. Cơ thể không tồn trữ được một chút nào do đó con người nhỏ bé ốm yếu. ( Điển hình tại Việt Nam những người sinh ra trong thòi kỳ bao cấp , thời kỳ cải tạo cho thấy cả một thế hệ nhỏ bé khô cằn ) Những chất dinh dưỡng thiếu nhiều nhất là chất đạm, trung bình các nước tân tiến mỗi ngày đem vào cơ thể khoảng 40g chất đạm trong khi đó những khu vực chậm tiến, người dân chỉ được hưởng khoảng một phần năm số lượng nầy. Con người nhỏ bé, teo cằn, đầu óc không nẩy nở, ngu muội. Số lượng Vitamin thiếu tổng quát không riêng một loại nào cho những người nầy và những loại người chịu sự thiếu nhiều nhất là những người già, những người mẹ đông con, mang thai phải cho con bú, trẻ em mới lớn.
Ăn không đầy đủ chất bổ dưỡng: Những loại người nầy sống trong những nước tân tiến hoặc giàu có chỉ chú trọng tới ăn cho khoái khẩu mà không cần để ý đến giá trị dinh dưỡng của mỗi loại thực phẩm, đưa đến cơ thể thừa chất nầy mà lại thiếu chất kia. Do đó con người phát triển bất bình thường, phì nộn, mập bệu, sinh nhiều loại bệnh. Số lượng Vitamin thiếu thường là thiếu riêng cho từng loại và cho từng người khác nhau.
Khi đồ ăn được đem vào cơ thể, nếu được hấp thụ vào máu hết để nuôi cơ thể là bình thường. Nhưng nếu bộ máy tiêu hóa không đủ khả năng tiêu hóa và hấp thụ đồ ăn, đồ ăn đem vào được bài tiết ra ngoài. Trên phương diện kinh tế là phí phạm, trên phương diện dinh dưỡng là thiếu chất bổ dưỡng đưa đến bệnh hoạn.
Tình trạng nầy đưa tới sự thiếu Vitamin tổng quát. Ngoài ra cơ thể bệnh hoạn như giun sán, thiếu các vi khuẩn hữu dụng cũng đưa tới thiếu Vitamin, những người hoạt động nhiều, tuổi đang lớn, thời kỳ chữa bệnh v.v... cần gia tăng số lượng dinh dưỡng và số Vitamin cần thiết, nếu không ăn đầy đủ, cơ thể không phát triển được.
Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC. PhD
Trước khi chưa tìm ra Vitamin, con người phải chịu khổ sở về một số bệnh như Pellagra (bệnh tróc vẩy ở da, tiêu chảy, lở miệng), Scurvy (chảy máu ở lợi, rụng răng, phù, đau các khớp xương, xương phát triển không bình thường), bệnh quáng gà (không thể nhìn thấy về đêm), Ricket (bệnh thiếu Calcium), làm cho sưng gan, đau mình, sốt, xương mỏng biến dạng dễ gẫy. Những bệnh này hoành hành như là một bệnh dịch làm chết cả một làng, một đội quân, các thủy thủ trong một chiếc tàu.
Những chứng tích lịch sử ghi nhận trên những bức tường cổ Ai Cập hơn năm ngàn năm về trước có vẽ những hình khuyên ăn gan gia súc, cầm thú có Vitamin A để tránh bệnh mù. Những hình vẽ thượng cổ Trung Hoa ghi nhận cách chữa bệnh vẹo xương Ricket, một loại bệnh thiếu Vitamin D. Thời kỳ đế quốc Hy Lạp có viết cả một thành phố chịu khổ đau về bệnh chảy máu lợi bể các mạch máu dưới da, bệnh Scurvy thiếu Vitamin C. Bệnh Scurvy đã giết chết 626 thủy thủ trong cuộc hành trình vòng quanh thế giới của Sir George Anson vào năm 1747. Bệnh phù thũng Beriberi đã tàn phá nước Nhật vì ăn toàn gạo giã, thiếu Vitamin B1 vào thế kỷ thứ 19, mãi tới năm 1887 ông Takaki mới tìm ra cách chữa bệnh phù thũng Beriberi bằng cách dinh dưỡng. Vào cuối thế kỷ thứ 19, khoa học rầm rộ phát triển, nhiều lý thuyết nổi tiếng ra đời, nhiều phát minh khoa học được tìm thấy: Darwin đưa ra lý thuyết biến thiên (Theory of Evolution). Freud đưa ra lý thuyết nhân vị. Pasteur, Kock, Metchnikoff đưa ra lý thuyết vi trùng sinh ra bệnh tật (Germ Theory of Diseases) và sản xuất ra nhiều loại thuốc chữa được nhiều loại bệnh dịch. Tất cả những quan niệm trên làm nền tảng cho sự hiểu biết và tìm kiếm ra Vitamin.
Năm 1911 nhà sinh hóa học người Ba Lan ông Casimir Funk nghiên cứu các loại bệnh Scurvy, Benberi, Rickets, Pellagra đã đưa tới kết luận là nguyên do chính là thiếu dinh dưỡng. Mặc dầu thời đó các chất đường chất đạm chất béo đã được nhìn nhận là thực phẩm căn bản. Ông Funk đề nghị rằng một loại cần thiết thứ tư, tuy rất ít nhưng rất cần thiết cho cơ thể không có không được ông ta gọi là Vitamin.
Năm 1913 Osborne, Mendel (3) McCollum và David (2) nghiên cứu riêng rẽ đã tìm ra trong dầu gan cá, trong bơ và lòng đỏ trứng một loại dinh dưỡng tan được trong chất béo gọi là Vitamin A. Sau đó thêm ba loại Vitamin có thể tan trong dung dịch chất béo và chín loại Vitamin tan trong dung dịch nước (1). Ngày nay Vitamin được coi rất quan trọng trong vai trò dinh dưỡng .
Định nghĩa
Vitamin là một hợp chất hữu cơ có rất ít trong các chất dinh dưỡng nhưng rất cần thiết cho từng giai đoạn của sự biến tạo thực phẩm trong tế bào để tăng trưởng và duy trì đời sống. Cơ thể không thể tự điều chế ra được mà phải ăn từ những thực phẩm, ngoại trừ Vitamin D có thể điều chế khi có ánh mặt trời nhưng phải có các chất tiền dẫn trong da thịt, một vài loại Vitamin khác như Vitamin K, B12, Thiamin, có thể do các vi trùng, vi khuẩn trong ruột tạo ra và hấp thụ vào máu. Vitamin không tạo ra Calori, không làm cho cơ thể tăng trưởng có nghĩa là nếu cơ thể nhịn ăn mà uống thuốc bổ không giúp ích được gì cho sự tăng trưởng và tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động.
Nhu cầu Vitamin trong cơ thể của mỗi loại động vật và con người khác nhau thí dụ như: người, khỉ, heo cần Vitamin C trong khi đó chó, chuột, thỏ cơ thể chúng có thể tự tạo ra Vitamin C được. Nếu thiếu Vitamin trong đồ ăn, hoặc bộ máy tiêu hóa không hấp thụ được vào máu để nuôi cơ thể thì sẽ sinh ra một số bệnh đặc biệt.
Phân loại và đặt tên
Vitamin được chia làm hai loại:
***Loại có thể hòa tan trong các chất béo như rượu và Eter gồm Vitamin A, D, E, và K.
****Loại có thể hòa tan trong nước gồm các loại Vitamin B và C.
---------------------------
Danh mục : Vitamin được đặt theo mẫu tự A, B, C
Sau khi đã phân chất được tính chất hóa học của vitamin, người ta đã bắt đầu đặt tên theo sự cấu tạo hóa chất để dễ phân biệt và hiểu được đặc tính, càng ngày càng nhiều Vitamin được tìm ra và biến chế theo các phương trình hóa học, sự đặt tên càng phức tạp. Tuy nhiên các nhà khoa học trên thế giới đã thỏa thuận giữ nguyên các tên nguyên thủy theo mẫu tự và kèm thêm vào đó tên khoa học như: Vitamin A (Retinol), B1 (Thiamin), C (Ascorbic acid), D (Calciferol) v.v...
Sự phân loại và danh mục các loại Vitamin được trình bày trong các phần kế tiếp dựa trên quyết định của IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry) thỏa thuận vào năm 1957. Và chỉ trình bày các loại Vitamin ảnh hưởng đến cơ thể con người.
Sau đây là phần tóm lược, danh mục, công dụng của các loại Vitamin do ông Cheldelin xếp loại vào năm 1951:
Vitamin A: Ngăn ngừa được bệnh quáng gà Nyctalopia, bệnh khô mắt Xerophthalmia, bệnh hoa mắt không nhìn rõ khi có nhiều ánh sáng Hemeralopia. Rất cần thiết cho tế bào tăng trưởng. Gồm có các loại có tên như Retinol, Retinoic acid, 3-dehydroretinol.
Vitamin B: Nguyên thủy dùng để chữa bệnh phù thũng Beriberi, hiện nay có rất nhiều công dụng được gọi là Vitamin B Complex.
Vitamin B1: Chữa bệnh Beriberi, và các bệnh đau nhức thần kinh. Được gọi là Thiamin tại Hoa Kỳ và Aneurine tại Anh Quốc.
Vitamin B2: Kích thích sự tăng trưởng, ngăn ngừa bệnh ngứa mắt, lở mép, lở tai. Được gọi là Riboflavin.
Vitamin B3: Ngừa bệnh Pellagra, thần kinh suy nhược. Được gọi là Niacin hay Nicotinic Acid.
Vitamin B4: Giúp cho các bắp thịt của chuột và gà khỏi suy yếu là hợp chất vừa Riboflavin và Pyridoxol.
Vitamin B5: Giúp cho biến năng các chất đạm, đường, béo, được gọi là Pantothenic acid.
Vitamin B6: Cần thiết cho các hoạt động biến năng, tăng trưởng, thiếu máu, các bệnh về da, về thần kinh. Được gọi Peridoxine, Peridoxal, Peridoxamine.
Vitamin B7: Cần thiết cho sự thủy giải các chất béo, chất đạm, đào thải các thán khí. Được gọi là Biotin.
Vitamin B8: Adenylic acid, hiện không còn được kể là Vitamin.
Vitamin B9: Cần thiết cho hồng huyết cầu và sinh phân Nucleic acid. Được gọi là Folacin, Folic acid.
Vitamin B10: Giúp cho gà và chim mau lớn, gồm hợp chất Cyanocobalamin và Pteroylmonoglutamic.
Vitamin B11: Giúp cho gà và chim mau lớn hợp chất giống như B4
Vitamin B12: Chữa bệnh máu hồng huyết cầu không được bình thường ở con người, giúp cho súc vật mau lớn, được gọi Cyanocobalamin.
Vitamin B13: Chưa được xác nhận.
Vitamin B14: Chưa được xác nhận.
Vitamin B15: Chưa được Hoa Kỳ công nhận. Được dùng nhiều tại Nga và các nước khác để chữa bệnh tim và mạch máu gọi là Pangamic acid (23).
Vitamin C: Chữa được Scurvy, được gọi là Ascorbic acid.
Vitamin D: Chữa bệnh Rickets gọi là Calciferol.
Vitamin E: Ngăn ngừa ốc-xýt hóa, giữ cho hồng huyết cầu khỏi bị tiêu hủy. Ngừa bệnh bất lực trong động vật. Được gọi Alpha, Beta-tocopherols.
Vitamin F: Cần thiết cho Fatty acid, và ngăn cứng động mạch trong động vật dùng nhiều ở Âu Châu.
Vitamin G: Không còn được dùng cho Riboflavin.
Vitamin H: Không được dùng cho Biotin.
Vitamin I: Ngăn ngừa bệnh không tiêu hóa trong chim bồ câu.
Vitamin J: Ngừa bệnh sưng phổi còn được gọi Vitamin C2.
Vitamin K: Ngừa bệnh máu loãng, giúp cho diễn trình đông máu. Được gọi Phyuoquinone, Menaquinone.
Vitamin L: Cho rằng cần thiết cho sự tạo ra sữa. Có thể liên hệ đến Anthranilic acid, Adenosine.
Vitamin M: Ngừa thiếu máu và thiếu bạch huyết cầu của khỉ. Gọi là Pteroylmonoglutamic acid.
Vitamin N: Đã bị bỏ, tin rằng có thể chữa ung thư.
Vitamin P: Không được gọi là Vitamin, giúp cho mạch máu khỏi bị bể.
Vitamin R: Giúp cho vi trùng tăng trưởng, liên hệ với Folic acid.
Vitamin S: Giúp cho gà mau lớn
Vitamin T: Giúp cho chuột mau lớn.
Vitamin U: Chữa được ghẻ lở.
Vitamin V: Giúp cho vi trùng tăng trưởng mau.
Đơn vị đo lường số lượng Vitamin mỗi loại cần thiết cho cơ thể được dùng là I.U. (The Intemational Unit) cho Vitamin A, D, E, các loại khác dùng Milligram là đơn vị đo lường. Riêng về Vitamin A, vì tính chất hấp thụ của các loại tiền chế Vitamin (Provitamine) trong cơ thể, năm 1967 các chuyên viên của FAO/WHO đã quyết định lấy Microgram của Retinol làm đơn vị thay cho I.U. trong thí nghiệm gọi là R.E. (Retinol Equivalent):
1 Retinol Equivalent = 6Èg Beta Carotene = 1Èg tiền chế Vitamin A Carotenoids = 3.33 I.U. Vitamin A rút từ Retinol = 10 I.U. Vitamin A rút từ B-carotene.
---------------------------
Vai trò của Vitamin
Vitamin có trách nhiệm hỗ trợ cho dinh dưỡng trong diễn trình biến năng của cơ thể gồm có thay thế và kiến tạo các tế bào trong cơ thể gọi là sự biến sinh và phân hóa các thực phẩm ra thành năng lượng, tồn trữ và sử dụng cho các hoạt động của cơ thể được gọi là sự tạo năng. Rõ ràng hơn, Vitamin giúp cho các chất béo, chất đường biến đổi ra thành năng lượng, giúp cho sự tạo thành các tế bào trong cơ thể như tế bào xương, tế bào bắp thịt, thần kinh v.v...
Ngoài ra Vitamin còn là một chất khích điều tố có trách vụ tác động một chất điều tố khác hoạt động. Không có khích điều tố, nhiều phản ứng hóa học quan trọng trong cơ thể không thể thành hình được.
Trong các thực phẩm được đem vào cơ thể hàng ngày thường không đủ các Vitamin, do đó việc uống thêm các Vitamin cho đủ số Vitamin cần thiết cho cơ thể là điều quan trọng, đặc biệt với các trẻ em đang lớn, các bà có thai cho con bú, người đang bị bệnh nhất là các bệnh về thiếu dinh dưỡng. Uống nhiều Vitamin quá cũng không giúp ích được gì, như các loại Vitamin có thể tan trong nước thì khi uống quá nhiều sẽ bị bài tiết qua tiểu tiện. Quá nhiều Vitamin có thể tan trong chất béo đưa đến tích trữ thặng dư trong cơ thể và sinh ra bệnh. Do đó nhiều công trình nghiên cứu để ấn định tiêu chuẩn cần thiết cho các loại Vitamin được dùng tối đa, an toàn cho một ngày được gọi là “đề nghị tiêu chuẩn dưỡng sinh” cho từng loại Vitamin. Từ đó, các nhà bào chế đã căn cứ vào các chất cấu tạo theo phương trình điều chế hóa học của Vitamin để điều chế ra các loại Vitamin biến chế. Những loại Vitamin biến chế nầy được điều chế tại các phòng bào chế thuốc có tác dụng tương tự như các loại Vitamin thiên nhiên trong thảo mộc hoặc trong động vật.
Vitamin có đặc tính dễ bị triệt tiêu khi nấu ở nhiệt độ cao, hoặc lâu và dễ tan trong nước nấu đồ ăn. Tránh nấu ở nhiệt độ cao có không khí và Vitamin dễ mất đặc tính nếu đồ ăn quá nhiều chất kiềm. Các loại rau nên hấp giữ được Vitamin. Nếu đem cắt nhỏ, nghiền nát và không để trong tủ lạnh các đồ ăn, rau đậu là nguyên do chính mất các chất Vitamin
---------------------------
Nguyên nhân thiếu Vitamin
Thiếu Vitamin có thể được phân loại: Những loại người thiếu ăn, ăn không đầy đủ chất bổ dưỡng, cơ thể không tiêu hóa và hấp thụ được chất bổ dưỡng, có thể bệnh hoạn không biến chế được các chất bổ dưỡng, và sau cùng là không đáp ứng được cơ thể đòi hỏi.
Thiếu ăn: Thế giới hiện nay trên sáu tỷ người có tới trên ba phần tư nhân loại đang trong tình trạng thiếu ăn. Sự thiếu ăn chính là thiếu toàn bộ số lượng thực phẩm đem vào cơ thể hàng ngày. Do đó số lượng Vitamin cần thiết cho cơ thể bị thiếu. Hàng ngày trung bình số lượng cần thiết đem vào cơ thể để có thể biến năng ra được khoảng 3.000 kcal cho các hoạt động bình thường trong ngày, thì những người sống trong khu vực thiếu ăn, hoặc nghèo đói chỉ có thể ăn để biến năng ra được khoảng 1.500kcal, phần lớn những năng lượng nầy được sử dụng hết cho hoạt động hàng ngày. Cơ thể không tồn trữ được một chút nào do đó con người nhỏ bé ốm yếu. ( Điển hình tại Việt Nam những người sinh ra trong thòi kỳ bao cấp , thời kỳ cải tạo cho thấy cả một thế hệ nhỏ bé khô cằn ) Những chất dinh dưỡng thiếu nhiều nhất là chất đạm, trung bình các nước tân tiến mỗi ngày đem vào cơ thể khoảng 40g chất đạm trong khi đó những khu vực chậm tiến, người dân chỉ được hưởng khoảng một phần năm số lượng nầy. Con người nhỏ bé, teo cằn, đầu óc không nẩy nở, ngu muội. Số lượng Vitamin thiếu tổng quát không riêng một loại nào cho những người nầy và những loại người chịu sự thiếu nhiều nhất là những người già, những người mẹ đông con, mang thai phải cho con bú, trẻ em mới lớn.
Ăn không đầy đủ chất bổ dưỡng: Những loại người nầy sống trong những nước tân tiến hoặc giàu có chỉ chú trọng tới ăn cho khoái khẩu mà không cần để ý đến giá trị dinh dưỡng của mỗi loại thực phẩm, đưa đến cơ thể thừa chất nầy mà lại thiếu chất kia. Do đó con người phát triển bất bình thường, phì nộn, mập bệu, sinh nhiều loại bệnh. Số lượng Vitamin thiếu thường là thiếu riêng cho từng loại và cho từng người khác nhau.
Khi đồ ăn được đem vào cơ thể, nếu được hấp thụ vào máu hết để nuôi cơ thể là bình thường. Nhưng nếu bộ máy tiêu hóa không đủ khả năng tiêu hóa và hấp thụ đồ ăn, đồ ăn đem vào được bài tiết ra ngoài. Trên phương diện kinh tế là phí phạm, trên phương diện dinh dưỡng là thiếu chất bổ dưỡng đưa đến bệnh hoạn.
Tình trạng nầy đưa tới sự thiếu Vitamin tổng quát. Ngoài ra cơ thể bệnh hoạn như giun sán, thiếu các vi khuẩn hữu dụng cũng đưa tới thiếu Vitamin, những người hoạt động nhiều, tuổi đang lớn, thời kỳ chữa bệnh v.v... cần gia tăng số lượng dinh dưỡng và số Vitamin cần thiết, nếu không ăn đầy đủ, cơ thể không phát triển được.
Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC. PhD