PDA

View Full Version : Chén muối



viewtronic
02-19-2008, 12:55 PM
Chén muối




Tôi có một người bạn rất xưa tên là Ngà. Từ năm lớp sáu cô giáo đã sắp cho chúng tôi ngồi cạnh nhau và hai đứa cứ giữ vị trí đó mãi đến khi không còn học chung với nhau nữa. Lúc đầu hai chúng tôi thân nhau. Tôi hay qua nhà Ngà chơi và Ngà không ngần ngại kể cho tôi nghe nhiều chuyện trong gia đình. Ngà mất cha lúc mới hai tuổi. Đứa em kế bị tâm thần, lê la đất cát suốt ngày. Một lần thằng bé làm đổ cây đèn dầu, suýt nữa là cháy nhà. Mẹ Ngà chịu không nổi phải lấy sợi dây cột thằng bé vào chân giường. Ngà vóc người nhỏ nhắn, hiền như cục đất, bị con trai chọc ghẹo thì chỉ biết khóc. Ngà hay hái ổi hái xoài đem cho tôi, những lúc tôi bịnh nghỉ học thì Ngà đem tập tới chép bài dùm. Tình bạn giữa chúng tôi tự nhiên và giản dị như một hạt giống đem gieo xuống đất rồi nảy nở thành mầm, thành cây giữa đất trời. Đến năm tôi lên lớp mười, mười một thì tình cảm ấy dần dần không còn nguyên vẹn nữa. Giữa tôi và Ngà có một sự khác biệt không cách gì lấp bằng được mà lúc nhỏ tôi không để ý đến. Càng lớn tôi càng ý thức được điều đó và sự u ám ấy cứ lớn dần lên như một con sâu độc, gặm nhấm lần lần những hoa lá xanh ngát trong tâm hồn tôi. Bởi ba của Ngà là liệt sĩ còn cha tôi còn trong trại cải tạo.

Ngà không ngờ vực gì ở tôi hết. Ngà vẫn hồn nhiên nhờ tôi giải dùm một bài toán khó, dịch dùm một đoạn văn bằng tiếng Anh. Tôi không rủ Ngà đến nhà chơi nữa cũng như không còn lân la qua nhà Ngà. Gia đình Ngà được cấp một biệt thự đồ sộ, nhà của những người ra đi bỏ lại, còn mẹ con tôi phải bán nhà về ở với ông bà nội. Mẹ tôi vừa đi dạy vừa bán chợ trời. Nhiều đêm tôi thấy mẹ khóc một mình. Mẹ tôi người hiền lành, nho nhã mà bây giờ phải lặn hụp giữa cái chốn xô bồ ấy để kiếm miếng thịt miếng cá về cho chị em tôi. Cha tôi mấy lần bị sốt rét tưởng chết ở núi rừng Việt Bắc. Tôi nghĩ đến Ngà. Và lòng tôi sôi sục.

Tôi vẫn ngồi bên cạnh Ngà, vẫn là “đôi bạn học tập” trước mắt thầy cô và bạn bè. Tôi sướng rơn khi bài toán của Ngà bị điểm kém, bài văn của Ngà bị cô phê là “còn quá nhiều lỗi chính tả và không nắm vững văn phạm.” Trong một lần trình diễn văn nghệ cuối năm Ngà chạy đến tôi mếu máo:” Cái áo của Ngà bị ai làm dính đầy mực.” Tôi giả vờ thảng thốt, giả vờ đủ mọi chuyện. Ngà không lên sân khấu được, tôi đắc thắng rồi.

Cuối năm lớp mười hai chúng tôi nộp đơn thi vào đại học. Kèm theo tờ đơn ấy là một bản kê khai lý lịch để xếp loại thành phần. Tôi đã khóc khi điền vào tờ đơn ấy. Tôi biết mình không thể nào đậu nổi. Cha tôi vẫn chưa về. Ngà đậu vào y khoa với số điểm 13, còn tôi rớt với số điểm 22. Ngày khai giảng tôi lầm lũi theo mẹ ra chợ trời. Tết năm đó Ngà đến nhà tôi. Tôi trốn trong nhà không muốn gặp. Ngà ra về viết lại cho tôi mấy chữ “Thanh đến nhà Ngà chơi nhé, có cả lớp cùng đến. Tụi mình họp mặt tân niên. Ngà nấu chè đậu xanh Thanh vẫn thích đó.” Tôi vò nát tấm giấy, mắt tôi đỏ ngầu, những cơn sóng dữ chỉ chực trào ra trong lòng. Tôi sẽ đến nhà Ngà, nhưng không phải đến để họp mặt tân niên.

Tôi còn nhớ là mình mặc chiếc áo bông màu cam lửa, cái áo mà Ngà đã tặng cho tôi vào một dịp sinh nhật. Ngà ra mở cổng, mừng tíu tít. “Úi chà, đẹp quá ha. Tưởng Thanh không tới Ngà buồn quá chừng.” Trong bếp có nồi cháo gà của Hạnh, mâm xôi vò của Oanh và to hơn hết, chễm chệ hơn hết là nồi chè của Ngà, hãy còn hâm hấp nóng. Ngà mở nắp ra nói với tôi:” Thanh nè, lát nữa phần Thanh đập đá bỏ vô chè nhé.” Mùi lá dứa, mùi đậu, mùi đường xộc vào mũi làm tôi rùng mình. Mắt tôi dừng lại ở cái khạp nho nhỏ màu da bò bằng đất nung đặt cạnh mấy ông Táo. “Khạp đựng gì vậy Ngà?” tôi hỏi. Ngà đáp: “À khạp đựng muối đó.” Tay tôi run run mở nắp nhìn vào. Đúng là khạp đựng muối, bên trong có cái chén đá mẻ miệng dùng để xúc. Tôi nín thở đậy nắp khạp lại, bước lên nhà trên vỗ tay đàn hát với mọi người. Thằng Tâm em Ngà đứng vẩn vơ dưới bếp nhìn lên, tóc nó như cái tổ chim, đầy cỏ và bụi.

Tôi không bao giờ quên được khuôn mặt nhợt nhạt và ánh mắt kinh ngạc của Ngà khi múc lấy muỗng chè đầu tiên. “Trời ơi, sao chè mặn quá vầy nè?” Ngà quính quáng chạy ra sau bếp, cầm cái vá múc lên nếm thử một lần nữa rồi gọi lớn, thất thanh:” Má ơi, sao nồi chè mặn chát như vầy?” Má Ngà ngoài sân chạy vào hoảng hốt: “Thôi rồi, thằng Tâm. Chắc nó đã xúc muối bỏ vô nồi chè. Trời ơi là trời, đem sợi dây vô đây cho tao. Tao đã dặn mày cột nó lại mà mày không nghe” Mặt Ngà tái xanh, vừa xấu hổ, vừa tức giận chụp tay đứa em tàn tật lôi đi. Má Ngà đem nồi chè đổ xuống cống. Sau đó chúng tôi đã ăn cháo, ăn xôi, đàn hát rồi ra về như thế nào tôi không nhớ một chút gì cả. Với tôi sự việc đến đó là đã quá đầy đủ. Sau lần đó tôi không bao giờ gặp lại Ngà nữa.

Hơn hai mươi năm đã trôi qua. Cuộc đời tôi rẽ sang một hướng khác sau khi cha tôi trở về và cả gia đình được ra đi định cư ở Hoa Kỳ. Ngày ra đi tôi nắm chặt hai bàn tay nhìn vào hàng chữ Sân Bay Quốc Tế Tân Sơn Nhất với một lời thề. Tôi sẽ không bao giờ trở về khi nào chưa trở thành bác sĩ. Ra nước ngoài tôi phát triển được hết khả năng của mình. Tôi tốt nghiệp y khoa ở một đại học danh tiếng. Các con tôi được đến trường mà không phải kê khai lý lịch hay xếp loại thành phần trong một cuộc thi nào cả. Cha tôi cũng có những năm tháng êm ả ở cuối đời. Hình ảnh của Ngà mờ dần rồi mất hẳn trong tâm trí. Tôi còn nhớ tới Ngà làm gì nữa.

Viết đến đây tôi bỗng dừng lại, ngập ngừng. Có phải là tôi đã thực sự quên Ngà? Không, tôi vẫn nhớ, nhớ rõ mồn một đấy thôi, nhớ từng giọt mồ hôi tươm ra lạnh toát sống lưng, nhớ từng nhịp tim đập run rẩy trong lồng ngực khi tôi xúc chén muối đổ vào nồi chè của Ngà. Cái ký ức mê muội ấy vẫn trở về với tôi hàng đêm, khi tôi một mình lặng ngắm giấc ngủ của hai đứa con không cha, hôn lên từng đường nét mà chồng tôi đã gởi vào khuôn mặt chúng. Anh đã mất rồi ở chiến trường Iraq. Một quả pháo rơi vào giữa doanh trại. Không còn một mảnh thi thể nào. Tôi tự hỏi cái định mệnh nào đã đem đến sự côi cút cho Ngà, những năm tháng tù tội cho cha tôi, rồi một cái vé máy bay cho tôi, một chỗ ngồi trong giảng đường đại học và sau cùng là cái chết của chồng tôi hôm nay. Tôi buồn bã nhận ra một điều rằng những biến động của lịch sử và số phận của đời người tùy thuộc vào những cái gì đâu đâu mà mình thì quá nhiều lầm lạc và ngộ nhận. Ngày xưa tôi đã ném một chén muối vào nồi chè của Ngà, còn giờ đây tôi ném nỗi u hoài của mình vào đâu bây giờ?

Đến một lúc rồi cha tôi cũng sẽ nằm xuống. Cỏ sẽ mọc thật cao, thật dày trên những năm tháng cũ. Chắc chắn tôi không bao giờ còn gặp lại Ngà nữa đâu nhưng ở nơi xa xôi này, trong một giây phút nào đó tôi vẫn gọi thầm “Ngà ơi…”

Nguyễn Thành Hưng

:36_1_1: