PDA

View Full Version : Bạn Làm Gì Khi Gặp Những Chuyện Thị Phi?



Ngọc Châu
07-20-2009, 02:00 AM
Bạn Làm Gì Khi Gặp Những Chuyện Thị Phi?
Thích Thông Tịnh

Bất cứ trong một đoàn thể nào cũng không tránh khỏi chuyện thị phi; nếu trong môi trường thị phi mà vẫn giữ được bình tĩnh, hài hòa, đây mới thật sự là người trưởng thành.
Trong xã hội, bất kỳ đoàn thể nào cũng có những người có quan điểm và tánh cách khác nhau cùng sống, cùng làm việc với nhau. Nếu không phải do nhiều người tổ hợp thành một đoàn thể thì anh chỉ là một người độc lập, cô độc; nhưng cuộc sống đơn độc một mình, không dựa vào xã hội, đoàn thể thì năng lực rất có hạn, do đó bạn không thể nào thành tựu việc lớn.
Xã hội và đoàn thể do nhiều người tổ hợp thành, nên khó tránh khỏi có những tánh cách khác nhau giữa người này và người kia. Bởi vì, bối cảnh cuộc sống và quá trình trưởng thành của mỗi người hoàn toàn không giống nhau, cho nên hình thành tánh cách và quan điểm cũng không giống nhau; cho dù hai người cùng lớn lên trong cùng một môi trường, nhưng vì cảm thụ khác nhau mà sản sinh quan niệm khác nhau.
Có một số người rất giản dị, dễ gần gũi, rất dễ hài hòa liên kết với mọi người; hạng người này rất dễ thông cảm, tha thứ, và quan tâm người khác. Ngoài ra, có một số người, tánh cách lãnh đạm, có những suy nghĩ kì quái; đứng trên lập trường của bạn thì ‘họ sai’, nhưng còn đứng trên lập trường của họ thì ‘họ đúng’, bởi vì, họ trưởng thành như thế. Hạng người này không bao giờ chấp nhận quan điểm của người khác, mà chỉ mong người khác chấp nhận quan điểm của họ.
Nếu gặp người có quan điểm kì quái trong đoàn thể, bạn sẽ cảm thấy rất khó chịu, nhưng bạn phải chấp nhận. Bạn nên suy nghĩ, tha thứ, và thông cảm cho anh ta, nhưng không nên đồng ý với anh ta, nếu không bạn sẽ mất đi lập trường của bạn và trở thành sản phẩm phụ thuộc anh ta.
Ðạo lý sống chung giữa người với người, điều cần thiết là liên kết hài hòa; liên kết không được thì phải thỏa hiệp; khi thỏa hiệp không được nên tha thứ, và nhường nhịn. Bởi vì, mỗi cá nhân ai cũng đứng trên lập trường của mình mà xem xét sự việc thì có thể dẫn đến hiện tượng không hài hòa, không đoàn kết.
Khi chính mình làm việc vì người khác, có lúc lòng tốt lại bị hàm oan. Bạn cho rằng, mình là người tốt, giúp đỡ người, quan tâm lo lắng cho người, nhưng lại bị mọi người cho rằng, bạn chỉ huy người, xen vào chuyện của người khác, khống chế người khác; thậm chí cho rằng bạn cố ý gây chuyện, hay bạn chính là kẻ đầu sỏ phá rối .v.v., những lúc như thế, bạn không nên quá sầu não, và thất vọng, vì chúng ta làm việc tốt là để tích công bồi đức, chứ không phải trông mong được báo đáp.
Do đó, bạn cần phải nhận biết trước, những sự việc như thế là những hiện tượng bình thường, và bạn phải lấy tiền đồ sự nghiệp chung làm trọng, bất luận người khác có phẩm giá như thế nào. Bạn vẫn sống chung, làm việc chung với những người kì quái.
Nếu dùng thái độ nầy sống chung với đại chúng thì bạn sẽ tăng thêm một phần trí tuệ, và giảm đi một số phiền não. Song hằng ngày, những sự việc rắc rối vẫn xảy ra, chỉ cần chúng ta không gây chuyện; khi biết có chuyện rắc rối xảy ra, trong lòng luôn giữ bình tĩnh, và chỉ lấy thành tựu công việc chung là trên hết, dần dần biến những cái trở ngại thành trợ lực, chuyển đối lập thành hỗ trợ, có như thế mục tiêu của chúng ta mới có thể thành công.
Còn nếu như gặp những tình huống khó hóa giải, ví dụ, bạn muốn hợp tác với người khác, nhưng người ta lại không chịu; hoặc bạn không có gây chuyện ly gián, nhưng người khác lại kiếm chuyện ly gián bạn với mọi người; hoặc bạn đối xử với mọi người đều tốt, nhưng họ lại cho bạn không tốt với mọi người.v.v., bạn nên nghĩ rằng: đây là cơ hội cho năng lực của bạn trưởng thành, là dịp may để mài giũa cá tính, đồng thời làm cho cuộc sống của bạn tăng thêm kinh nghiệm; cũng giống như trong mưa bom bão đạn mà có thể về an toàn, thì lúc đó công phu của bạn đã luyện thành.
Chúng ta từ bao kiếp lặn hụp mãi trong bể khổ, đã từng gây bao rắc rối trở ngại cho người, và đã chịu không biết bao đau thương của kiếp người. Nếu chúng ta không phản tỉnh, nuôi dưỡng lòng thương, cứ mê man chạy theo những ảo tưởng, nô lệ bao phiền não hại mình hại người thì không biết bao giờ ra khỏi biển khổ. Ví như chim trong lồng, tưởng mình có cái lồng đẹp suốt ngày líu lo, nhưng nào có biết mình có quyền bay bổng giữa trời xanh.
Chúng ta ai cũng có sẵn trong lòng tình thương bao la, mang tình thương bao la đó mà làm việc, ta sẽ vượt mọi trở ngại bên trong và bên ngoài, khiến mọi người đến chốn tươi vui.
Ta sẽ thấy vui tươi khi mọi người xung quanh đoàn kết vui tươi, ta cùng mọi người dắt nhau đi trên con đường chân lý.
Lòng thương sẽ xây dựng lại cuộc đời, biến cảnh chết chóc lầm than thành cảnh tươi vui xán lạn. Lòng thương sẽ giải quyết bao vấn đề nan giải, sẽ mở cho bao người vốn tự giam trong lòng phiền não, ích kỷ, ác độc, sẽ đổi tiếng khóc than thành lời ca hát, thành nụ cười vui.
HẠNH LẮNG NGHE
PHƯỚC VIÊN

Hạnh lắng nghe là một phương pháp thực tập quan trọng, có khả năng trị liệu và chuyển hóa. Nếu một người biết lắng nghe thì người ấy có thể hiểu và mang lại hạnh phúc cho chính mình cùng mọi người.

Đức Bồ tát Quán Thế Âm là vị Bồ tát luôn lắng nghe: nghe đến cùng tận âm ba vô thanh của tự tánh, siêu việt lên tất cả (phản văn văn tự tánh) và nghe hết thảy niềm đau của chúng sanh để cứu độ (tầm thanh cứu khổ). Học theo hạnh Ngài là nguyện luôn lắng nghe. “Kính lạy Đức Bồ tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Ngài, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ…”.
Trong tâm thức của mọi người, Bồ tát Quán Thế Âm là người mẹ hiền, thương chúng sanh như con đỏ. Đa phần chúng ta niệm danh hiệu để cầu cứu Ngài gia hộ trong những khi nguy cấp mà ít ai chịu thực tập theo hạnh nguyện của Ngài trong đời sống thường nhật là biết lắng nghe, nghe chính mình và mọi người để hiểu, để thương và chứng đạt hạnh phúc.
"Đôi khi ta lắng nghe ta” (Trịnh Công Sơn) cần nhưng chưa đủ, không chỉ đôi khi mà phải luôn lắng nghe ta. Bởi thỉnh thoảng mới "lắng nghe ta” mà họ Trịnh đã phát hiện ra "đêm thấy ta là thác đổ”. Không chỉ đêm thác mới đổ mà thác tâm đã đổ ầm ào từ vô lượng kiếp đến tận bây giờ. Lắng nghe ta có hai cấp độ cạn và sâu. Nghe cạn là nghe tất cả những tuôn trào và âm ỉ của nội tâm. Tâm ta là một dòng sông dài, khi êm ả hiền hòa, lúc thác ghềnh gào thét. Nghe ta để hiểu chính ta. Trong sân khấu cuộc đời, con người luôn phải mang những chiếc mặt nạ, mải mê với nhiều vai diễn thuần thục đến độ quên cả chính mình. Nghe ta để tìm lại chính mình. Ngay đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngoài những biểu hiện trong đời sống hàng ngày, trong ta còn nhiều góc khuất với những mảng màu sáng tối thiện ác đan xen, đôi khi kỳ quái đến huyền hoặc. Ai đã từng nghe được tiếng lòng với tất cả các cung bậc của nó mới chợt giật mình. Thì ra, ta phức tạp hơn ta thường nghĩ về ta rất nhiều. Tuy nghe cạn nhưng nghe được như vậy là một bước tiến rất xa trên lộ trình tâm, một sự nhận diện về thân tâm đầy đủ và trung thực để bước lên cấp độ cao hơn.
Lắng nghe ta ở cấp độ sâu là nghe tự tánh. Nương nơi tánh nghe trở về tự tánh là yếu chỉ của Lăng Nghiêm đồng thời là con đường thể nghiệm hạnh lắng nghe siêu việt của Đức Bồ tát Quán Thế Âm. Tự tánh là thể của tâm, vốn không sanh không diệt, và ngay đây chủ thể và đối tượng nghe đều không tồn tại. Nghe được tự tánh tức nghe đến tận cùng sâu thẳm của vô thanh, nghe ra cái tịch nhiên im lặng sấm sét. Ngay đây, phiền não rơi rụng, tuệ giác hiện tiền, thực tại hiển bày “vượt ngoài thế gian và xuất thế gian, sáng suốt cùng khắp mười phương, trên thì hợp với bản giác diệu tâm mười phương chư Phật đồng một từ lực với Như Lai, dưới hợp với tất cả chúng sanh đồng với chúng sanh một lòng bi ngưỡng” (Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Viên thông về nhĩ căn).
Không chỉ lắng nghe chính mình mà còn biết lắng nghe mọi người. Bồ tát Quán Thế Âm luôn lắng nghe tất cả những nỗi lòng của mọi loài, nhất là những niềm đau, nỗi khổ của chúng sanh để tìm cách cứu độ (Kinh Pháp Hoa, Phổ môn). Vì thế, Ngài được xưng tán là vị Bồ tát tầm thanh cứu khổ và chúng ta, trong những lúc nguy khốn thường niệm hồng danh "Nam mô Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát".
Học theo hạnh Ngài, chúng ta thực tập lắng nghe người khác. Chỉ cần lắng nghe thôi thì chúng ta đã “cứu khổ” cho người rất nhiều. Ai trong chúng ta mà không có những niềm đau! Rồi niềm đau ấy ngày một tích tụ và lớn dần lên khi không tìm ra người hiểu mình để sẻ chia, đồng cảm. Đến khi niềm đau vượt ngưỡng chịu đựng cho phép sẽ bùng vỡ thành tai họa. Vì vậy, được một người lắng nghe tâm sự, thấu hiểu nỗi lòng của mình là một niềm hạnh phúc. Mọi người cần được lắng nghe để thấu hiểu và yêu thương nên tu tập hạnh lắng nghe là việc cần làm của mỗi người con Phật.

Lắng nghe mình và người khác để hiểu và thương nhằm xây dựng hạnh phúc chính là từ bi, ban vui cứu khổ, là học theo hạnh nguyện của Đức Bồ tát Quán Thế Âm. Cuộc sống với các đặc điểm của xã hội hiện đại đã biến con người thành những ốc đảo. Dù có thể kết nối, liên lạc với mọi người ở khắp nơi trên thế giới, song con người ngày càng cô đơn hơn bởi sự bế tắc, không hiểu được nhau giữa những người thân trong gia đình và thế hệ khác nhau trong xã hội. Những “hội chứng” nổi loạn, phá phách của tuổi trẻ hay buồn bã, bi quan của tuổi già cùng tất cả những biểu hiện suy đồi, thực dụng, tiêu cực v.v… của đời sống hiện đại phải chăng là phản ứng quẫy đạp khi không thiết lập được cảm thông? Theo Phật giáo, thực tập hạnh lắng nghe có thể hóa giải và trị liệu những “hội chứng” này, giúp con người xích lại gần nhau, hiểu và thương nhau hơn và đó cũng chính là quà tặng “cam lộ” của Đức Bồ tát Quán Thế Âm đến với mọi người.

Hạnh Nguyện Đức Bồ Tát Quán Thế Âm
TT. Thích Đức Thắng

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi này, là người nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay, kẻ đó không biết được hòa âm vũ trụ trong trò chơi này. Nói thế không có nghĩa là bản thể vũ trụ ở trong tình trạng phân sáp làm đôi và đối lập nhau; nhưng nó chỉ là một. Tuy thế, về mặt tùy thể, chúng ta nhìn bản thể vũ trụ như là một phức thể, tùy theo kiến giác của mỗi chúng ta. Vì tùy thể này, nói lên được sự hiện hữu của duyên nghiệp trong mỗi chúng ta đang ở trong tình trạng sinh khởi, nối tiếp và ràng buộc vào nhau, mà hiện ra các khổ tướng báo thân có sai khác. Nhưng về mặt nhất thể , thì hiện tướng chính là bản thể, và bản thể chính là hiện tướng.



Do đó, cuộc đại hòa âm, hay bất đại hòa âm trong vũ trụ, cũng tùy theo đó mà hiện hữu như một thực tại giữa chúng ta, không thể không chấp nhận. Vì kẻ biết được hay không biết được trò chơi cùng đang nằm trong quỹ đạo của ý niệm, nhưng khi ý niệm vừa khởi lên, liền sau đó phát hiện ra âm thanh hoặc tương đồng hoặc tương khắc với với thế giới âm thanh bên trong hay bên ngoài. Tuy nhiên trong thế giới ngũ trược này, hầu hết chúng sanh đã mang vào trong mỗi tướng thể một khổ quả nào đó, cùng nằm trong một cộng nghiệp không thể tránh khỏi luật tắc luân hồi, đã mang và sẽ đưa chúng sanh vào con đường khổ. Chính vì khổ nghiệp của chúng sanh đang vây khổn mà các đức Phật Thế tôn cùng các vị Bồ tát xuất hiện ra thế gian này, với hạnh nguyện đại từ, đại bi, ban vui cứu khổ cho mọi loài. Cùng ở trong hạnh nguyện đó, sự xuất hiện của Bồ tát Quán Thế Âm được các kinh công nhận là độc đáo nhất trong hạnh nguyện của các vị Bồ tát. Ngài đã chứng ngộ bằng âm thanh qua nhĩ căn viên thông, và lấy âm thanh là tiêu đích trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sanh. Với danh hiệu Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, đã nói lên đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện đó.
Trong nhiều bộ kinh, có nói về đức Quán Thế Âm Bồ tát; nhưng chúng ta không thấy đề cập đến phương pháp chứng ngộ của Ngài. Duy bộ kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến sự chứng ngộ ấy, kinh Lăng Nghiêm trực chỉ ghi rõ rằng: Sau khi đức Thế tôn gạn hỏi chỗ sở chứng của 24 Thánh đệ tử xong, đến lượt Bồ tát Quán Thế Âm bày tỏ chỗ sở chứng của mình như sau: " Quán Thế Âm Bồ tát bạch rằng: Tôi nhớ là: hà sa số kiếp về trước, có một vị Phật hiệu là Quán Thế Âm; vị Phật đó dạy tôi muốn vào chánh định thì phải theo nghe-nghĩ-tu. Từ trong nghe, khi trở về tự tánh thì sở duyên biến mất và con đường vào trở nên vắng lặng (sở không có, năng không có chỗ duyên, nên năng vẫn không hiện hữu, ở trong tự tánh vắng lặng). Hai tướng động và tịnh không sinh. Từ từ mà tiến lên như vậy, thì nghe và đối tượng bị nghe đều hết. Nghe đã hết không trụ, thì giác và đối tượng của bị giác đều không khi không giác đã tròn đầy, thì không và đối tượng không đều diệt. Khi sinh và diệt đã mất, thời cảnh tịch diệt hiện ra trước mắt." Thế giới phơi mở trước chúng ta như là một hiện hữu, vượt khỏi không gian thời gian. Cảnh giới này không bị ràng buộc bởi xuất thế gian và thế gian, hay các pháp hữu vi và vô vi. Cảnh giới này trên đồng với Như Lai một từ lực, dưới hợp với tất cả chúng sanh trong sáu đường, và đồng với chúng sanh một lòng bi ngưỡng.
Đến đây, chúng ta thấy hạnh nguyện của Quán Thế Âm trong kinh Lăng Nghiêm cùng kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, gặp nhau trong lòng bi ngưỡng đối với chúng sanh đại thể. Nhưng về ý nghĩa danh từ có sự khác nhau. Trong kinh Lăng Nghiêm ý nghĩa luôn luôn ở trong chiều hướng phản phục cái nghe nơi tự tánh. Như vậy, cái nghe ở trong chiều hướng nội. Một khi tâm đã phản phục, thời cảnh sở quán sẽ không còn, nên không có sự đối đãi giữa năng và sở nữa. Lúc đó Như lai tạng tâm sẽ hiển bày ra trước mắt. Lúc đó tâm năng văn và cảnh sở văn sẽ tiêu tan dung hội. Như vậy kinh Lăng Nghiêm lập cứ trên nhân hạnh mà gọi là Quán Thế Âm. Ngược lại trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn lại lập cứ trên quả đức để hiển nghĩa, thì Âm chính là tiêu đích của văn tầm cứu. Dù là tịch thinh hay là động thinh, nghe của Quán Thế Âm Bồ tát cũng thấu suốt tất cả. Âm thinh từ trạng thái tâm lý đến lúc phát ra ngoài, phải qua một tiến trình chuyển động của cơ thể. Có sự liên hệ giữa một ý niệm khi phát khởi, và các sợi thần kinh liên hệ chuyển động để thoát ra ngoài cửa miệng, lúc đó mới tạo thành âm thanh thật sự. Âm thanh này sẽ dàn trải ra vô tận, và sẽ tạo thành âm thanh sống của vũ trụ. Trong những biến động tiếp giao này, cùng với những âm thanh khác, sẽ tạo ra những điệu hòa âm, hay bất hòa âm, tùy theo lối dung nạp của mỗi âm thanh từng người, từng loại chúng sanh. Ở đây trạng thái tịch thanh không tự hữu, mà chỉ hiện hữu trong mỗi người, mỗi sự vật, chính ngay trong ý niệm, trong mặc thức, không phát ra bên ngoài, hay chưa khởi phát ra ngoài, nhưng nó có tác động của tâm thức can thiệp vào. Ở đây, còn gọi là tâm thanh, là tiếng nói của tâm.


Vậy, âm là biểu tượng ý nghĩa cuộc sống, thế giới ngoại tại của chúng sanh trong pháp giới duyên khởi này chính là hiện tướng của nghiệp tướng vô minh con người đang lôi kéo con người trong bể khổ sanh tử luân hồi. Những khổ đau tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van xin, cầu cứu của chúng sanh trong bể khổ đã làm cho nguyện lực độ sanh của Bồ Tát Quán Thế Âm phát sinh. Ngài đã cùng nhĩ căn viên thông, thường xuyên quán sát và nghe tiếng cầu cứu của chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng loại mà Ngài hóa độ, cứu vớt .
Ở đây, về ý nghiã danh xưng, chúng ta thấy sự khác biệt giữa kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài. Một đàng hướng nội nghe bản thể tự tánh, tức là Như Lai tạng tâm và đó cũng chính là bản thể của chúng sanh, của vũ trụ mà lập cứ (theo nhân hạnh) để cứu vớt; một đàng hướng ngoại nghe quả khổ của chúng sanh, cùng tiếng cầu cứu mà lập cứ (theo quả đức) để cứu vớt . Nếu căn cứ nơi nhân và quả để hiểu thì làm sao có sự gặp gỡ hạnh nguyện giữa Kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài? Đó là câu hỏi cần đặt ra và cần giải đáp. Sự xuất hiện của Ngài vì lòng bi ngưỡng vô úy, cùng với chúng sanh cùng một thể tánh. Ngài đã mang danh hiệu Đại Từ Đại Bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, nói lên lòng bi ngưỡng vô úy đó . Lòng bi ngưỡng vô úy mà chúng sanh đã đánh mất, thay vào đó lòng sợ hãi. Chính vì lòng sợ hãi mà con người luôn ở trong tình trạng lo đối phó, nhưng đối phó với phương pháp chạy trốn thực tại, tìm cách né tránh với tương lai . Mà tương lai là những gì chưa xảy đến với họ hay sẽ không xảy đến. Vì sợ hãi lo âu nên con người tự đánh lừa chính mình và dần dần trở thành vong thân. Từ đó thần thánh, ma quỷ, Thượng đế được xuất hiện bởi con người và do con người đặt ra, con người lấy đó làm nơi nương tựa. Cuộc sống của chúng ta đầy dẫy những biểu tượng, biểu tượng của sợ hãi, do đó chúng ta đã tự đánh mất bản tính vô úy của ta. Con người không dám nhìn thực tại, không dám nhìn vào chính mình, không dám sống với thực tại, luôn luôn sống với tương lai; mà tương lai là những gì ảo tưởng. Con người luôn tìm cách nắm bắt những ảo tưởng đó để rồi thất vọng đau khổ .
Trong truyền thống triết lý siêu hình Tây phương, vì sự sợ hãi này mà Thượng đế xuất hiện. Thượng đế đã được lý trí con người đặt ra để tôn thờ là nơi tương tựa của những con người yếu bóng vía, đầy lòng sợ hãi với hiện tại, với tương lai. Tự đặt con vào sự cứu rỗi của Thượng đế, tự họ đánh mất bản tánh của họ. Họ làm nô lệ cho một Thượng đế bên ngoài, họ đã vong thân và Thượng đế thần thánh đã ngự trị, chi phối cuộc sống họ. Kể từ Socrates mãi cho đến Athur Schopenhauer, giai đoạn này Thượng đế đã được đề cập đến nhiều, nhất là thời kỳ trung cổ, thời kỳ kinh viện, Thượng đế được coi như là thần linh, ban phước giáng họa và mãi đến Hegel .
Hegel đã quan niệm: Thượng đế là một nhân cách hóa của con người và con người là nhân cách của Thượng đế. Thượng đế chính là ý niệm tuyệt đối. Ông giải thích Thượng đế của ông theo sách Sáng Ký và ba ngôi của Ky Tô giáo bằng biện chứng pháp của ông theo ba tiến trình; đề, phản đề, tổng hợp đề . Ông bảo rằng: "Chính Thượng đế đã vong thân, Thượng đế đã đẻ ra hình ảnh Ađam và Eva nơi vườn địa đàng, và chính Adam và Eva đã phản lại lời dặn dò của Thượng đế khi nghe lời dụ dỗ con rắn (tượng trưng cho ác quỷ sa tăng) mà ăn phải trái cấm thiện ác, để rồi từ đó về sau con người mắc phải tội tổ tông (nguyên tội) và bị đày đọa trong khổ đau, càng khổ đau con người càng tạo nên tội lỗi. Để chuộc lại tội lỗi này, Thượng đế đã cho Jésus giáng thế, và bị đóng đinh trên cây thập tự giá, để chịu tội cho thế gian; khi đó con người trở lại trạng thái ban sơ nơi vườn địa đàng. Để rồi ông kết luận Thượng đế là con người và con người là Thượng đế. Đó là giai đoạn chung cuộc của lịch sử tương lai.



Từ Hegel đến Schopenhauer, quan niệm Thượng đế thay đổi dần và biến mất từ Schopenhauer. Với quyển "Vũ trụ như là ý lực", ông đã phủ nhận Thượng đế. Ông là người đầu tiên mang truyền thống Đạo học Đông Phương thổi vào Âu Châu một luồng sinh khí mới mẻ, và mạnh mẽ nhất là Nietzsche với chủ trương "con người siêu nhân" và ông đã nói; "Thượng đế đã chết" (Das Got Isto). Như thế Thượng đế thực sự đã vắng mặt trên thế gian này. Mãi đến Heidegger, danh từ Thượng đế không còn được nhắc đến nữa. Nền siêu hình học hiện đại mà người đại diện cho nền triết lý Tây Phương là Heidegger đã không nhắc đến một Thượng đế nào, ông chỉ đề cập đến tính thể của hiện thể tại thế (Dasein) của con người mà thôi. Những vấn đề xa xôi chưa đến trong tương lai, không phải là vấn đề bận tâm của ông. Ông chỉ biết hiện tại, sống với hiện tại, tìm ra những vấn đề liên hệ giữa con người với con người, giữa cuộc sống và con người cùng sự hiện hữu chính mình. Theo ông đó là những bâng khuâng của con người, cần phải tìm ra sợi dây liên hệ đó. Có thế con người mới làm chủ được chính mình và làm chủ được cuộc sống; lúc này con người sẽ không còn sợ hãi nữa, họ sống một cách bình thản chấp nhận tất cả dù là cái chết đi nữa, cũng không sợ sệt, vui cười với cái chết. Họ đã đến gần Đông phương với tinh thần vô úy. Nhưng đó chỉ là một thiểu số có tinh thần thượng thừa, đã nhìn ra được trò chơi của vũ trụ trong suy niệm. Họ đã chấp nhận hiện tại và sống với hiện tại, chơi với hiện tại bằng một thái độ lì lợm, kiêu hãnh với chính mình mà không bao giờ sợ hãi
Học Im Lặng
lời bình của Tung Sơn
Đệ tử phái Thiên Thai thường học thiền định. Khi phái này chưa du nhập vào Nhật bản, có bốn người đệ tử giao hẹn nhau không nói một lời nào trong bảy ngày. Ngày đầu bốn người đều im lặng. Họ chú tâm thiền định. Nhưng khi trời tối và những ngọn đèn dầu mờ dần, một người đệ tử không thể giữ im lặng được nữa, bảo người giúp việc: "Hãy sửa đèn đuốc lại đi!". Người đệ tử thứ nhì ngạc nhiên khi nghe người đệ tử thứ nhất nói, anh ta bèn nhắc bạn: "Chúng ta đã giao hẹn nhau không nói câu nào kia mà". Người đệ tử thứ ba nói: "Cả hai anh đều ngu xuẩn. Tại sao các anh lại nói chuyện?". Người đệ tử thứ tư kết luận: "Tôi là người duy nhất không hề nói chuyện".
Trích quyển "101 truyện thiền" (zen flesh, zen bones; trang 92)



Lời bàn của Tung Sơn
Câu chuyện thiền trên đây khiến Tung Sơn nghĩ đến nhà xí thư viện Sorbonne. Nguyên là trên tường nhà xí thư viện này lúc nào cũng đầy những câu văn, những hình ảnh trình bày những suy tư, những cảm tưởng thuộc tình tự, chính trị, triết học... và tình dục dĩ nhiên! Có lẽ vì nhà xí là một khung cảnh thích hợp cho sự suy tư chăng? Rất có thể vì ở đó người ta được dịp cô đơn để gặp gỡ chính mình, đối thoại với chính mình một cách rất ư là thành thực mà không sợ cái nhìn soi mói của người khác. Những tư tưởng nhà xí cao siêu đó, dĩ nhiên, như tất cả mọi tư tưởng cao siêu khác, không làm vừa lòng tất cả mọi người, nhất là đối với những người cho rằng tư tưởng là cái chi thanh cao vượt khỏi không gian và thời gian, nhất là khi đó lại là không gian và thời gian nhà xí, vốn chật chội, hẹp hòi và có hương "nồng" và không "thanh thanh" như một nhà thơ đã tả. Sự phẫn nộ rất chân chính nói trên được phát biểu bằng nhiều cách khác nhau. Khi thì đứng đắn, nghiêm trang: "N'écrivez pas sur les murs"(1) (dĩ nhiên chính câu này được viết trên tường). Khi thì bao hàm một phán đoán đạo đức, khá tục tằn: "C'est con d'écrire de telles conneries sur les murs" (2) (dĩ nhiên câu này cũng được viết trên tường)... Nếu đọc qua những tư tưởng viết trên tường, người ta phải công nhận rằng những nhận định trên đây là đúng. Nhưng chúng bao hàm một mâu thuẫn lô gích trầm trọng: viết trên tường để phản đối sự kiện viết trên tường có nghĩa là tự mình phản đối mình, cũng mâu thuẫn như người dân đảo Crète khi anh ta tuyên bố rằng mọi người dân đảo Crète đều nói láo!
Câu chuyện thiền trên đây cũng có một giá trị tương tự câu chuyện nhà xí mà Tung Sơn vừa kể. Thật vậy, các người đệ tử thứ hai, thứ ba, thứ tư, bằng những lời phản đối khác nhau, đều làm một việc in hệt như người đệ tử thứ nhất: phá vỡ sự im lặng mà đáng ra, theo lời giao hẹn, họ phải giữ.
Câu chuyện này, về một phương diện khác, đã diễn tả khá rõ lý thuyết nhân duyên sinh của nhà Phật: câu nói của người thứ nhất đã gây ra những phản ứng của ba người bạn. Và trùng trùng duyên khởi! Ba người bạn khi phản ứng tưởng là mình đã làm một chuyện tốt ngờ đâu cũng chỉ gây thêm ồn ào, và không đủ khả năng thiết lập lại sự im lặng muốn có. Câu mắng của người đệ tử thứ ba, sự tự hào ngu xuẩn của người đệ tử thứ tư không khỏi làm người thức giả bực cười.
Câu chuyện còn đặt ra một vấn đề khó giải quyết: trước câu nói của người đệ tử thứ nhất, ba người đệ tử kia phải làm gì để phản đối hoặc để làm cho người này thấy được giá trị của họ (đã im lặng)? Họ có thể hành động nhiều cách khác nhau ngoài lời nói. Hoặc trang nhã: bấm lưng người bạn làm dấu nhắc anh ta phải im lặng. Hoặc bạo động hơn: đá đít cảnh cáo anh ta đã phá vỡ im lặng (nhưng dĩ nhiên đừng hét!)... Hoặc...hoặc...
Nhưng thật ra mọi biện pháp nói trên đều vô ích khi người ta đặt câu hỏi: im lặng để làm gì? Câu trả lời đã rành rành: im lặng để tĩnh tâm thiền định. Ôi, tâm đã không tĩnh, đã còn bị ngoại vật chi phối, đã còn muốn mắng nhiếc người khác, đã còn muốn khoe khoang thì im lặng để làm gì?
Ôi! Nếu cái áo không làm nổi thầy tu, thì sự im lặng cũng không làm nổi một vị thiền sư. Và dĩ nhiên lời nói...!

Kẻ Thù Gan Góc Của Con Người
TỊNH MINH dịch

Giáo pháp của Phật được truyền bá bao nhiêu thì nhân loại sẽ hiểu được sức mạnh vĩ đại của tình thương bấy nhiêu, và họ cũng sẽ càng nhận thức được rằng tất cả chúng sanh đều là anh chị em (quyến thuộc) cả. Qua nhận thức đó thì lòng hận thù và thành kiến chủng tộc sẽ dần dần tan biến, quần chúng sẽ chung sống trong tình huynh đệ, hạnh phúc.

Chúng ta không được nản lòng nếu thấy khó chinh phục kẻ thù tự ngã. Chúng ta phải nhớ rằng chính Ðức Phật cũng phải mất nhiều thời gian mới chinh phục được nó. Trước khi giác ngộ, Ngài cũng phải chiến đấu qua bao nhiêu năm, và chúng ta cũng sẽ phải chiến đấu như thế. Ngài đâu phải là thiên thần, Ngài là một người bình thường như chính chúng ta, và Ngài đoan chắc rằng những gì Ngài làm, chúng ta cũng có thể làm nếu chúng ta nghe theo lời khuyên mà Ngài đã dành cho ta. Không một giá trị nào có thể đạt được trong một ngày; chúng ta phải nỗ lực phấn đấu mới đạt được điều đó. Một số bạn trẻ chúng ta hay nóng lòng chờ đợi đủ thứ, nhưng chỉ có các em nào cần cù làm việc hàng ngày thì cuối cùng sẽ được phần thưởng.
Ði theo Con đường Tám chánh cao quý không phải dễ. Chính Ðức Phật cho chúng ta biết như vậy; Ngài nói Niết bàn nằm ở cuối đường, rất đáng được ta nỗ lực để đạt đến. Mỗi Phật tử đều có công việc khó khăn trước mắt phải làm, nhiều việc phải học, và như thế mới trút bỏ được gánh nặng khổ đau mà mình đã đeo mang qua bao năm tháng.
Làm sao gặp Phật ?
Cư-sĩ Chính-Trực

Qua hình tướng tìm Phật
Qua âm thanh tìm Phật
Làm vậy là sai đường
Làm sao gặp được Phật?
Trong mùa Phật Đản năm nay, nhân dịp làm lễ kỷ niệm Đức Phật Thích Ca sinh ra trên thế gian này, để cứu độ chúng sanh, hãy thử suy nghĩ: chúng ta đã từng gặp Phật chưa? Nếu chưa, chúng ta làm sao gặp Phật? Có phải đợi sau khi chết rồi, vãng sanh tây phương cực lạc, mới gặp được Phật chăng? Có phải chỉ có Phật Tử mới gặp được Phật chăng?
Hoặc có phải chăng: tất cả chúng ta có thể gặp Phật, ngay trên thế gian này, ngay trong cõi đời này, bất luận người đó là Phật Tử, hay không là Phật Tử, bất luận người đó tại gia hay xuất gia? Dường như ai ai cũng có các thắc mắc này, vậy chúng ta hãy lần lượt cùng nhau tìm cách trả lời dựa theo giáo lý của đạo Phật.
Hầu như mọi người Phật Tử đều biết lịch sử Đức Phật Thích Ca: Ngài đản sinh ở vườn Lâm Tỳ Ni, được gọi là Thái Tử Tất Đạt Đa, con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, trị vì vương quốc Ca Tỳ La Vệ, thuộc nước Ấn Độ bây giờ. Ngài lớn lên, cưới vợ, sinh con, cũng như bao nhiêu con người khác trên thế gian. Rồi nhân những chuyến ra khỏi hoàng cung, nhận thấy các cảnh: sanh, lão, bệnh, tử, của kiếp con người, cho nên Ngài quyết tâm xuất gia tu hành, tìm đường giải thoát và thành đạo dưới cội bồ đề. Sau đó, Ngài chuyển pháp luân, thuyết pháp cứu độ chúng sanh trong 50 năm, cuối cùng nhập niết bàn ở vườn Ta La. Như vậy, Đức Phật Thích Ca đã nhập niết bàn, chúng ta đi tìm Phật ở đâu, làm sao chúng ta gặp được Phật?
Thực ra, chúng ta chẳng cần đi tìm Phật ở đâu xa, chẳng cần phải qua Ấn Độ, hay vào chùa mới gặp Phật. Phật luôn luôn ở trong cuộc đời, ngay trên thế gian này, hiện hữu khắp nơi, nhưng chúng ta không thấy, vì chúng ta chỉ nhìn đời bằng đôi mắt thịt, mà quên xử dụng con mắt trí tuệ, để quan sát những gì tiềm ẩn bên trong, hoặc ý nghĩa của những việc làm. Nơi các tôn tượng chư Phật, con mắt trí tuệ được tượng trưng bởi viên ngọc quí ở giữa chặn mày, luôn luôn chiếu sáng, mang ý nghĩa: tuệ đăng thường chiếu, tức là ngọn đèn trí tuệ thường chiếu sáng, còn đôi mắt thịt, luôn luôn khép lại, không duyên theo cảnh trần. Tuệ đăng thường chiếu nghĩa là con người sống luôn luôn tỉnh thức, không bị mê mờ, không bị dục lạc thế gian lôi cuốn, sống trong thế gian, nhưng không phiền lụy, cũng chẳng khổ đau. Chúng ta có thể tìm thấy Phật qua sự sống trong tất cả mọi loài chúng sanh. Sự sống đó bàng bạc trong khắp không gian và thời gian, không hạn hẹp trong trăm năm của một kiếp con người.
* * *
Trong cuộc sống hằng ngày, khi tiếp xúc giao thiệp với mọi người chung quanh, chúng ta thường nhìn người đời bằng cặp mắt thịt, trong kinh sách gọi là nhục nhãn, cho nên chỉ nhìn thấy được hình tướng bên ngoài của con người, phân biệt nam nữ, cao thấp, đẹp xấu, già trẻ, lớn bé, giàu nghèo, mập ốm. Chính vì con người có cái nhìn phân biệt như vậy, cho nên cảm thấy phiền não và khổ đau nhiều hơn là an lạc và hạnh phúc. Tại sao vậy?
Bởi vì, khi có cái nhìn phân biệt như vậy, con người chỉ thấy chung quanh toàn là chúng sanh, cho nên khởi tâm thương ghét, làm cho cuộc sống đảo điên, tâm trí bất an. Chẳng hạn như khi gặp người nào đẹp đẽ, hạp nhãn, hay gặp vật gì quí giá, hiếm hoi, thì sanh lòng tham lam, ưa thích ngắm nhìn, muốn chiếm hữu làm của riêng. Toại nguyện thì hả hê, thích thú, bằng không được như ý, thì sanh tâm oán thù, ghét bỏ, bực dọc, tức tối. Chẳng hạn như gặp người nghèo hèn, ít học, thì sanh tâm khinh khi, kỳ thị, rẻ rúng, còn gặp người giàu sang, học thức, thì thèm muốn, ước mơ, nịnh bợ. Chẳng hạn như gặp người mập ú thì cười, gặp người gầy ốm thì chê. Con người thường có ước mơ muốn được bình yên, nhưng tâm trí cứ chạy theo cảnh trần đời như vậy, lăng xăng lộn xộn cả ngày, suốt tháng, quanh năm, làm sao cuộc sống bình yên, an vui cho được?
Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy: "Ly nhứt thiết thướng, thị danh thực tướng". Nghĩa là: Khi nào lìa bỏ được tất cả các hình tướng bên ngoài, không chấp vào nhân dáng thế này thế khác, chúng ta mới có thể nhận ra thực tướng của tất cả mọi người. Thực tướng đó là gì? Thực tướng đó chính là con người chân thật của tất cả mọi người trên thế gian này. Con người chân thật đó đồng nhất, không khác, không phân biệt nam nữ, già trẻ, lớn bé, màu da, sắc tộc, quốc gia, ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, giai cấp, xuất xứ, kiến thức, học lực, bằng cấp.
Mọi người đều có thực tướng đồng như nhau, chỉ vì mê ngộ không đồng, nghiệp chướng khác nhau, cho nên hình tướng bên ngoài có khác. Chẳng hạn như: Người tham gian thì cặp mắt láo liên, đảo điên, đảo qua, đảo lại. Người sân hận thì cặp mắt trợn trừng, tóe lửa, dữ dằn. Người si mê thì cặp mắt lờ đờ, khờ khạo.
Tu theo đạo Phật, không phải chỉ có cúng kiến lễ lạy, van xin cầu nguyện, cầu an cầu siêu, cầu được bình an, cầu sang cực lạc, cầu đủ thứ chuyện, cầu cho sung sướng, biểu diễn hình tướng, không còn gì khác! Không phải như vậy! Tu theo đạo Phật là phải thúc liễm thân tâm, chuyên cần chăn trâu, con trâu tâm ý, đừng để chạy rong, ngông cuồng phá phách, giẫm đạp ruộng người, húc đàng đông xông đàng tây, từng giây từng phút.
Tu theo đạo Phật là phải tìm ra con người chân thật, hay giác ngộ thực tướng của chính mình. Thực tướng đó bất sanh bất diệt. Ngộ được thực tướng thì thoát ly sanh tử luân hồi, theo đúng lời dạy của tam thế thập phương chư Phật. Còn con người bằng xương bằng thịt, trong kinh sách gọi là tấm thân tứ đại, chỉ tồn tại hơn kém trăm năm là nhiều!
Trong khi bình thường, hai người tánh tình giống nhau, hòa đồng, nhã nhặn, vui vẻ, lịch sự, không khác. Khi có biến cố xảy đến, người biết tu tâm dưỡng tánh, giữ gìn được sự bình tĩnh thản nhiên, không khởi tâm tham lam, không khởi tâm sân hận, không khởi tâm si mê. Nếu người nào hoàn toàn giữ gìn được bản tâm thanh tịnh, trong mọi hoàn cảnh trên thế gian, trước những bát phong của cuộc đời, dù được hay mất, dù khen hay chê, dù vinh hay nhục, dù sướng hay khổ, tâm tánh vẫn luôn luôn bình tĩnh thản nhiên, luôn luôn mỉm nụ cười an nhiên tự tại, người đó chính là một vị Phật.
Một vị Phật không phải từ trên trời giáng xuống, không phải từ lòng đất chui lên. Một vị Phật tùng địa dũng xuất, như trong Kinh Pháp Hoa dạy, nghĩa là từ nơi tâm địa của mỗi con người chuyển hóa mà thành, chuyển hóa từ xấu xa thành tốt đẹp, chuyển hóa từ tâm tham sân si ô nhiễm, trở về bản tâm vốn thanh tịnh. Một vị Phật thành đạo từ nơi con người biết tu tâm dưỡng tánh, đi đúng Chánh Đạo, hành đúng Chánh Pháp. Người nào chưa đạt được hoàn toàn như vậy, chính là những người đang trên bước đường tu tập, công phu được bao nhiêu, người đó được an lạc và hạnh phúc bấy nhiêu. Chứ không phải van xin cầu nguyện mà đặng đâu!
Theo truyền thuyết, khi Thái Tử Tất Đạt Đa đản sanh, có hai vị long vương đến phun nước tắm cho ngài. Một vị phun dòng nước nóng. Một vị phun dòng nước lạnh. Điều này có ý nghĩa thâm sâu như sau: cũng như Thái Tử Tất Đạt Đa, người nào trên thế gian này, chịu đựng nổi sức mạnh của hai dòng nước, kham nhẫn nổi sức nóng lạnh, tượng trưng cho những áp lực thường xuyên và sự đối nghịch của cuộc đời, chẳng hạn như: thịnh suy, hủy dự, xưng cơ, khổ lạc, nói chung là bát phong, thì người đó chính là một vị Phật trong tương lai.
Còn đại đa số người đời, khi có biến cố xảy ra, tâm tham lam liền khởi lên, không thể dừng được, luôn luôn nghĩ đến những việc tranh giành quyền lực, lợi mình hại người, xúi người hại nhau, bất chấp thủ đoạn, thưa gửi kiện tụng, sang đoạt tài sản, chiếm hữu bản quyền, giựt hụi quịt nợ. Nếu mục tiêu là bạc triệu đô la, con người càng đối xử với nhau ghê rợn hơn, khủng khiếp hơn, chẳng còn kể quan hệ cha con, chồng vợ, bè bạn, thầy trò, anh em, thân bằng quyến thuộc gì hết, mạng sống của con người, của chính bản thân bị coi rẻ như bèo! Đồng bào, đồng bạn, đồng chí, đồng đội, đồng đạo, đồng hương, đồng nghiệp, đồng ngũ, chẳng có giá trị gì cả, chẳng có nghĩa lý gì cả. Chỉ có đồng tiền là trên hết, là vạn năng, có đủ năng lực xô đẩy, sai khiến con người vào vòng tội lỗi hết sức dễ dàng. Cửa thiên đàng khép lại, cửa địa ngục mở rộng kể từ đây!
Khi có biến cố xảy ra, dù chỉ một lời nói vô thưởng vô phạt, vô ý vô tứ, hay một cử chỉ nhỏ nhặt, nhưng va chạm tự ái, tổn thương mặt mũi của con người, tâm sân hận liền khởi lên, không thể dừng được, con người liền nghĩ đến chuyện trả thù, báo oán, làm đủ mọi cách, khiến cho kẻ thù, người mình không ưa, sống không được yên, chết cũng không xong, ngả nghiêng điêu đứng, tạo dựng chuyện ác, khiến người tội oan, tiêu tan danh dự, te tua tơi tả, thì mới hả dạ, mới thỏa tấc lòng, tâm địa chúng sanh, phàm phu tục tử, sâu hiểm ác độc, của một con người. Khi tam bành lục tặc nổi cơn lên, dù có phải đại náo thiên cung, lật tung nhà người, con người cũng dám làm, không cần biết hậu quả ra sao! Bởi vậy cho nên, có nhiều người đánh mất hạnh phúc trong tầm tay, hay đánh mất người cộng tác tài năng đáng tin cậy, chỉ vì những cơn sân không kềm chế được như vậy.
Khi có biến cố xảy ra, người ta không còn hợp tác, không còn qua lại với mình, mình liền ngậm máu phun sau lưng người, không kể người cười miệng mình dơ, đâm bị thóc thọc bị gạo, bêu riếu đàm tiếu đủ điều, vạch lá tìm sâu, bới bèo ra bọ, chứng nào tật nấy, không bao giờ chừa! Cũng do tâm si mê xui khiến, con người tin chuyện nhảm nhí, mê tín dị đoan, van xin thượng đế, cầu nguyện thần linh, tìm sông lội suối, nước kém vệ sinh, cho là nước thánh, trị được bá bệnh, cầu gì được nấy, cũng mang về uống, dù cho người đó, có nhiều bằng cấp, dù thấp hay cao, ở ngoài thế gian, hay trong nhà đạo!
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh". Nghĩa là: "Tất cả mọi chúng sanh đều có tánh giác". Tất cả mọi người đều có tánh giác, sáng suốt đồng nhau, không khác, trong kinh sách gọi là Chân Tâm hay Phật Tánh, nhưng chỉ vì nghiệp lực khác nhau, tâm tham sân si khác nhau, cho nên bị phiền não khổ đau cũng khác nhau, hình tướng bên ngoài cũng khác nhau. Chẳng hạn như mặt trăng lúc nào cũng sáng tỏ, không khác, nhưng đêm nào có nhiều mây đen, chúng ta trông thấy mặt trăng mờ nhạt nhiều hơn. Chẳng hạn như mặt biển lúc sóng yên gió lặng, thanh bình, rộng rãi, bao la, trông xa, thấy rộng, mênh mông, bát ngát, nhưng lúc cuồng phong nổi lên, sóng to gió lớn, bầu trời đen kịt, không còn trông thấy được gì cả. Mặt trăng sáng tỏ, mặt biển thanh bình, tượng trưng cho bản tâm thanh tịnh của tất cả mọi người. Đó cũng chính là con người chân thật hay Chân Tâm Phật Tánh của tất cả mọi người. Mây đen hay sóng to gió lớn, tượng trưng cho những phiền não khổ đau, che lấp từng phần, hay che khuất hoàn toàn, tâm trí con người không còn sáng suốt trọn vẹn nữa.
Như vậy, câu hỏi tìm Phật ở đâu, làm sao gặp Phật, thật là quá dễ, ai cũng có thể trả lời được. Trước hết, Phật có nghĩa là Đức Phật Thích Ca, vị Phật có thực trong lịch sử, sinh ra ở Ấn Độ, tu hành và thành đạo, cách đây hơn 2500 năm, ngay trên thế gian này, ở ngay cõi ta bà này, không phải cõi nào khác, không phải tây phương cực lạc. Đó là câu trả lời gần nhứt, đơn giản nhứt, rõ ràng nhứt. Tuy nhiên, trong kinh sách có câu: "Phật biến nhứt thiết xứ", nghĩa là Phật có ở khắp mọi nơi, Phật ở chung quanh chúng ta, nhưng chúng ta không hiểu biết, không nhận ra đó thôi. Đó là nghĩa lý cao siêu mầu nhiệm của chữ "Phật". Đó là con đường thực tế, giúp đỡ cuộc đời được nhiều ánh sáng giác ngộ và giải thoát, cuộc sống được nhiều an lạc và hạnh phúc, con người được nhiều an nhiên và tự tại, giảm bớt phiền não và khổ đau.
Trong kinh sách cũng có câu: "Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt". Nghĩa là: "Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không khác, không sai biệt". Phật và chúng sanh bổn nguyên tánh thường rỗng lặng, trong kinh sách gọi là không tịch. Tâm của người nào không chất chứa bất cứ hình ảnh của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường, hoàn toàn trống rỗng, tĩnh lặng, tâm người đó chính là tâm Phật. Chư Tổ cũng có dạy: "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật", chính là nghĩa đó vậy.
Khi thấy người nào vào chùa, van xin cầu khẩn chư Phật ban cho điều này điều kia, chư Tổ thường dạy: Ngươi cõng Phật đi tìm Phật! Nghĩa là chư Phật đã bỏ những điều phiền não, chỉ dạy chúng ta pháp môn tu tập để giải thoát, để thành Phật, chúng ta không chịu tu học, để tự mình thoát ly phiền não khổ đau, trái lại chúng ta van xin cầu khẩn những điều phiền não, chẳng hạn như: tiền tài, danh vọng, ước gì được nấy, nhứt bổn triệu lợi, buôn may bán đắt, thi đâu đậu đó, bình yên vô sự, nhà cao cửa rộng, điều cuối cùng là: cầu vãng sanh cực lạc quốc! Cầu không được, khổ là cái chắc! Cầu bất đắc, tức khổ không sai!
Chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh Phật, qua các vị chân tu thực học, giới đức tròn đầy, là điểm tựa, là chỗ quy ngưỡng, để chúng sanh tìm được sự an lạc khi gần gũi. Chúng ta có thể tìm thấy Phật ở khắp nơi trên thế gian này, chỗ nào có tình thương ngự trị, có từ bi hỷ xả hiện tiền, là có Phật ở ngay nơi đó. Bất cứ người nào, dù không là Phật Tử, dù là Phật Tử tại gia hay xuất gia, mà trong một khoảng thời gian nào đó, phát tâm bồ đề, khai mở Chân Tâm, thực hành hạnh lợi tha, vì người quên mình, thể hiện bốn tâm lượng rộng lớn: từ bi hỷ xả, thì ngay trong giây phút đó, người ấy đang sống với tâm Phật, như một vị Phật. Nhưng sau phút giây giác ngộ đó, người ấy trở lại cuộc sống tầm thường, thì tâm Phật lại tiềm ẩn, chờ cơ hội khác để phát huy. Phật là con người giác ngộ trọn vẹn và vĩnh viễn, lúc nào cũng tỉnh thức và sáng suốt. Chúng sanh khác Phật ở chỗ: chỉ lóe sáng trong giây phút, rồi lại chìm đắm trong bóng tối vô minh. Tại sao vậy? Bởi vì, con người không đủ sức vượt khỏi tam giới, không đủ sức ra khỏi căn nhà lửa, không đủ sức chống cự sức mạnh của con trâu tâm ý, nghĩa là con người bị "nghiệp thức che đậy" và thường hay "biết mà cố phạm"!
Để có cái nhìn thực tiển và có phương pháp thực hành, trong cuộc sống hằng ngày của người Phật Tử, tại gia hay xuất gia, Chư Tổ có dạy: "Chúng sanh nhìn Chư Phật như chúng sanh, cho nên phiền não khổ đau.Chư Phật nhìn chúng sanh như Chư Phật, cho nên niết bàn tự tại". Nếu hiểu biết một cách thấu đáo, một cách tường tận lời dạy này, chúng ta liền biết làm sao gặp Phật, hay tìm Phật ở đâu? Chúng ta thường hay nghĩ rằng: Phật ở tây phương cực lạc, Phật ở trong chùa, Phật ở trong kinh sách, Phật ở trong các bức tượng bằng gỗ, bằng đồng, bằng bạc, bằng vàng, hay bằng tranh vẽ. Còn chung quanh toàn là chúng sanh tất cả! Chính bởi cái nhìn, cái hiểu biết, cái suy nghĩ, cái quan niệm như vậy, cho nên con người gặp nhiều phiền não khổ đau, không sao tránh khỏi, không bao giờ dứt.
Con người không biết rằng: chính mình có Chân Tâm, Phật Tánh, và mọi người chung quanh cũng y như vậy, không khác. Con người đeo cặp mắt kính chúng sanh, tức nhìn đời qua tâm vọng động, cho nên nhìn ai cũng thấy chỉ là chúng sanh, nhìn ai cũng chỉ thấy tật xấu của họ, nhìn ai cũng thấy đáng ghét, nhìn ai cũng thấy đáng đề phòng, nhìn ai cũng thấy muốn xa lánh, nhưng không bao giờ, nhìn lại chính mình, xem tốt hay xấu, cho nên gặp nhiều, phiền não khổ đau, rồi chờ khi chết, lết về tây phương, nương về cực lạc, để tìm gặp Phật, làm sao gặp được?
Còn chư Phật và những người giác ngộ, biết tu tâm dưỡng tánh, đeo cặp mắt kính thanh tịnh, nhìn đời bằng bản tâm thanh tịnh, nhìn ai ai chung quanh cũng thấy được họ có Chân Tâm, Phật Tánh, nhìn ai ai chung quanh cũng hiểu biết họ là vị Phật sẽ thành trong tương lai, gần hay xa tùy theo công phu tu tập của mỗi người, nhìn ai ai chung quanh cũng hiểu biết họ có những điều hơn mình, đáng cho mình học hỏi, nhìn ai ai chung quanh cũng thấy được con người chân thật, không phải con người hiện tướng tham đáng ghét, không phải con người hiện tướng sân dữ dằn dễ sợ, không phải con người hiện tướng si khờ khạo ngu ngơ. Cho nên chư Phật và những người giác ngộ, biết tu tâm dưỡng tánh, luôn luôn an nhiên tự tại, bình tĩnh thản nhiên, chứng được cảnh giới niết bàn hiện tiền. Chúng ta có giác ngộ, mới có cuộc sống an lạc và hạnh phúc như vậy, mới giải thoát khỏi phiền não và khổ đau. Cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời đáng sống, kể từ đây!
* * *
Tóm lại, trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai". Nghĩa là: Phàm ở trên thế gian này, tất cả những gì có hình tướng đều hư vọng, có ngày cũng phải bị hư hao, hoại diệt, kể cả những bức tượng Phật, dù làm bằng vật liệu gì đi nữa cũng vậy, kể cả tấm thân tứ đại, sau trăm năm cũng phải bỏ lại. Nếu chúng ta nhìn mọi người, không qua hình tướng bên ngoài, không phân biệt kỳ thị, không thành kiến bất công, lúc đó chúng ta sẽ nhìn thấy được Như Lai, tức là thấy được Chân Tâm Phật Tánh, của mình và của mọi người, đồng nhất không khác! Đó chính là con người chân thật, bất sanh bất diệt. Kiến Như Lai tức là ngộ đạo, tức là thoát ly sanh tử luân hồi.
Cũng trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
“Nhược dĩ sắc kiến ngã.
Dĩ âm thanh cầu ngã.
Thị nhơn hành tà đạo.
Bất năng kiến Như Lai”.
Nghĩa là: Nếu người nào nhìn qua sắc tướng, diện mạo, hoặc do âm thanh, mà cầu Phật, hoặc cho rằng có hình tướng như vậy, có âm thanh như vậy, mới phải là Phật, thì người đó đang đi sai đường, lạc lối, không thể nào gặp được Phật, không thể nào thấy Như Lai. Nói một cách khác, những người cứ tưởng: lạy tượng Phật nhiều, tức là hình tướng, tụng kinh Phật nhiều, tức là âm thanh, thì được gặp Phật, nằm mơ thấy Phật, những người như vậy, chẳng hiểu biết gì, đang hành tà đạo, làm sao hiểu được Như Lai? Tại sao vậy? Bởi vì, Phật hay Như Lai chỉ về tâm tánh, vô hình vô tướng, không có hình tướng có thể thấy được bằng đôi mắt thịt của con người. Bởi vậy cho nên, muốn thấy được Như Lai, muốn gặp được Phật, con người phải phát huy trí tuệ bát nhã, phải nhận ra con người chân thật, nhận ra Chân Tâm Phật Tánh của chính mình và của mọi người chung quanh chúng ta.
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, và trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy: "Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền, sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc". Nghĩa là: Khi nào trong tâm con người, những niệm lăng xăng lộn xộn không còn khởi lên, chẳng hạn như niệm tham, niệm sân, niệm si, khởi lên rồi lắng xuống nên gọi là: sanh diệt, ngay lúc sanh diệt chấm dứt, không còn đó, tâm trí bình yên lặng lẽ, không xáo trộn, chẳng bất an, bình tĩnh thản nhiên, an nhiên tự tại, cho nên gọi là: tịch diệt hiện tiền, hay tịch diệt vi lạc, tức là cảnh giới an lạc, niết bàn tự tại, hiện ngay trước mặt. Tâm trạng bất an vì những niệm sanh diệt, gọi là tâm chúng sanh. Tâm sanh diệt diệt rồi, không còn lăng xăng lộn xộn nữa, trở nên tâm không tịch, trống không và tịch tịnh, hoàn toàn thanh tịnh, gọi là: bản tâm thanh tịnh hay Tâm Phật.
Như vậy muốn tìm gặp được Phật, chúng ta chỉ cần hành trì các pháp môn, dù thiền tông, tịnh độ tông, hay mật tông, tức là: thiền quán, tọa thiền, thiền hành, tứ oai nghi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, cho đến mức rốt ráo, đạt được trạng thái "nhứt tâm bất loạn". Lúc đó, chẳng những chúng ta gặp được Phật, mà chính chúng ta vừa trọn thành Phật Đạo đó vậy.
LỜI VÀNG Ý NGỌC
( Phần I )
Kính thưa chư vị Pháp lữ gần xa!
Có một lần, vô tình tôi được nghe những dòng Pháp này trong một bộ băng ghi âm Sư thúc Đồng Văn để lại. Với tôi, những dòng Pháp ấy là một tài sản tinh thần vô giá. Xin được ghi lại những dòng Pháp ấy trên trang viết này để được xẻ chia cùng chư vị. Tin rằng, chư vị sẽ đón nhận những lời vàng ngọc ấy như một món quà tinh thần đầu Xuân !
Ấn Độ, mùa Đông 2002
Lê Bích Sơn

Con người là tên gọi đích thực của nỗi đau khổ truyền miên, bất tận trên cõi đời này. Hay nói khác hơn, con người đã mang lấy một hình tượng là đau khổ khi khởi đầu thân phận của mình. Thế thì, có ai là người đã hạnh phúc thật sự để được sống ở đời? Người khách đã tự hỏi lòng mình như thế, vào một buổi chiều cuối năm. Không gian yên tĩnh lại càng yên tĩnh hơn, vì câu hỏi này vẫn bị bỏ ngõ, vẫn không được trả lời, vẫn là niềm ray rức không nguôi bên lòng người khách. Để rồi cho đến một hôm, sau tuần trà buổi sáng trong thư phòng, người khách mới chợt nhớ lại câu chuyện Đức Phật trên một bờ sông nọ.
Trong lịch sử con người, có lẽ Đức Phật là người đầu tiên đã định nghĩa lại danh từ “con người”với bao hàm ý nghĩa rất nhân bản. Trong nguyên ngữ “Buddha”, được dịch là “Người Tỉnh Thức”, Người tỉnh thức thì không còn đau khổ nữa. Cho nên, người khách từ đây hướng lòng về quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng như là một điểm khởi đầu cho cuộc hành hương đời mình vào Đức Phật, mà trên đó một ngôi Thiền thất nhỏ được dựng lên với vẻ uy nguy mà giản dị, thiêng liêng mà hữu tình, để phụng thời tượng Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, và cũng để chiêm bái tượng Đức Quán Thế Âm - vị Bồ tát có đôi mắt nhìn xuống chúng sanh đau khổ. Khi ấy chính là lúc từ trong chiều sâu vực thẳm đến cùng tận tâm hồn của người khách chầm chậm vang lên từng đợt chững âm ba dài hải triều vọng lại, vỗ về lấy cung điệu cổ xưa từ vô thuỷ. Cùng lúc đó, những tiếng sóng gào thét của khổ đau cũng bùng lên dữ dội, chập chùng không dứt trên biển tâm thức chuyển động càng bao la. Những lúc này, người khách có cảm giác thời gian như muốn ngừng lại. Nhưng rồi, mùa Đông cũng phải lụi tàn đi, để nhường cho một mùa Xuân mới khác xuất hiện trở lại trên địa cầu. Thật vậy, cũng cùng lúc ấy người khách lại một lần nữa hiểu dần ra rằng đâu là ‎ nghĩa của câu hỏi mà Bồ tát Vô Tận Ý thỉnh vấn Đức Thế Tôn về nhân duyên và danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm trong phần mở đầu “Phẩm Phổ Môn – Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”: “Nhĩ thời, Vô Tận Ý Bồ tát tức tùng toà khởi, thiên đản hữu kiên, hiệp chưởng hướng Phật, nhi tác thị ngôn: Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ tát dĩ hà nhân duyên danh Quán Thế Âm?”. Và đến đây cuộc hành hương vẫn cứ tiếp tục, trong khi câu hỏi trên kia mỗi lúc càng thêm xúc tích, thân tình như một công án Thiền phải cưu mang trong đời, nhất là vào những lúc như lúc thư thản này, ngồi uống ngụm trà nhìn hoa cúc vàng nở đầu năm.
“Việc chùa cũng vừa xong,
Về thắp hương thư phòng,
Quanh đây làn khói toả,
Con thỉnh Phật . . . uống Trà”
HOA
Hoa chính là vị Bồ tát hoá thân làm đẹp mắt mọi người, để những ai chuộng sắc trần vào Đạo. Vẻ đẹp của hoa không có vị tục tằn của xác thịt, vẻ đẹp của hoa không có mùi quyến rũ của tội lỗi, vẻ đẹp của hoa là hiện thân của vô thực, sự huyền diệu của ánh nắng kết tinh thành màu sắc. Hoa là Từ bi, một đời tặng hết dịu dàng và an ủi cho chúng sanh. Hoa là Hỷ xả, sau khi đem giọt nước mắt của chân mỹ đến để ra đi, không bận tâm đến kiếp sống vô thường. Hoa là Bồ tát dạy con “tâm vô trụ”, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những giây phút ấy trôi qua trong đau khổ, trong địa ngục của giận hờn và lo toan. Mỗi giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn đoá hoa. Khi con bên lề đường không một người để mắt, hoặc rực rỡ trong những khu vườn cùng sự chăm sóc của con người, hay lẻ loi đơn côi nơi đồng hoang vắng, hoa vẫn bình đẳng trải rộng từ bi, không phân biệt đắng đo về lẽ thân tình của mình sẽ đến với ai và được tiếp nhận hay không! Con hãy sống trong vô trụ, trải rộng từ bi đến mọi người, không phân biệt tình cảm của người đối với con ra sao, không lượng thời gian không gian, không cần được đền đáp, không cần được hiểu và thông cảm. Hãy để đoá hoa Tâm được nở, đừng để “Ngã” của con làm khô cằn mảnh đất vốn đã được gieo giống “Phật”, vì mọi sự phân định phải trái chính là “Bản ngã”! Con có quyền tu thì kẻ khác cũng có quyền không tu, con không được tự cho rằng: mình tu nên đúng hoàn toàn. Thêm vào đó, là người tu mà không chuyển nổi tâm kẻ khác theo đường Đạo thì phải tự trách mình. Vả lại, nếu con thật sự hết lòng cầu giải thoát, hãy tự giải thoát mình khỏi cảnh khổ hiện tại, đừng quy lỗi cho kẻ khác về nỗi khổ của mình. Tu là tự giải thoát. Giải thoát là gì? Sự bình an của con trước mọi điều thuận nghịch của hoàn cảnh mà con đang sống, hay được tự giải thoát, bình an nơi sự thay đổi hoàn cảnh, phải nhìn thực tại của tâm mình mà giải quyết, hãy nhìn xuống, hãy hạ tâm mình! Hoàn toàn được mọi người khen tặng là điều không thể có, nhưng hoàn toàn bị chê bai cũng là điều không thật. Nghĩ rằng mình bị mọi người chú ý để chê bai cũng chính là “Ngã” đấy. Muốn thấy ánh sáng chân lý đưa con ra khỏi vô minh, phiền não, con phải học hạnh Từ Bi Hỷ Xả của hoa. Hoa phải là tâm con. Chư Phật trong mười phương đều nói đến giải thoát, hoá sanh nơi hoa sen trong ao báu, chẳng phải không nguyên do. Cho nên, hoa mang tướng vô thường mà sống đời vĩnh cửu của Đại Từ; giây phút đi qua trần thế, nên giọt nắng cõi trần soi vào mắt con, khai thị điều thiện mà con chưa tự chứng. Như hoa có thể tàn mà vẻ đẹp và mùi hương không biến mất khỏi tâm con, điều thiện có thể mang tướng đến và đi, mà trong tâm thức của con, con không bao giờ quên điều thiện có thật, hiện hữu rõ ràng khi con đối diện với khổ đau.
ÂM NHẠC
Âm nhạc là chuỗi tiếng động sắp xếp theo tâm tư của từng người, trong mỗi con người, trong mỗi chúng sanh là một nguồn nhạc ý tuông tràn, những giận hờn, những đau khổ, những niềm vui tuông ra từ đó. Cho nên, lắng nghe thế giới với tất cả những âm thanh đa dạng là một nguồn vui bất tận, vì đó là âm nhạc. Những câu chưởi rủa là nhạc của một tâm hồn dao động đến cực điểm, những bài hát là âm nhạc của thi nhân, và tất cả là bài hát bất tận của Sinh-Trụ-Hoại-Diệt, là âm thanh của sự sống, tức là hình tướng của Đạo.
Tiếng chân bước trên đường vắng, tiếng là khô rơi rụng, tiếng dế kêu, tiếng đàn và cả những âm thanh mà con không nghe bằng nhĩ căn được, như tiếng mây trôi, tiếng hạt nước mưa chạm nhau trên không, tiếng thì thầm của hoa cỏ, tiếng của người xa con. . . là những âm thanh kỳ diệu của cuộc đời. Biết thưởng thức tất cả những âm thanh của cuộc sống là sống trong âm nhạc. Con có hiểu âm thanh là gì, thì mới thực sự cảm được âm nhạc của đời. Hãy nghe đi! Chỉ biết nghe những âm thanh mà con thích thì chưa thưởng thức được cái kỳ diệu của âm thanh, nếu con chỉ thích nghe những lời ngợi khen và rất ghét nghe những lời chê bai, thì nhĩ căn chỉ làm việc một nửa, đó là khuyết tật, đó chính là sự bất toàn của thân, đó chính là sinh bất túc. Tất cả mọi âm thanh đều là vui, tất cả mọi âm thanh đều là Pháp, những lời nói dữ là thử thách sự kiên định của tâm, là pháp rèn tâm, là pháp điều phục tâm xao động. Như thế, những lời nói dữ chính là giả tướng của lời Phật thuyết, chính là Pháp. Những lời nói dữ tự bản tánh nó không dữ mà con chấp rằng nó dữ, vì con còn vướng mắc vào âm thanh, nên con không nhận thấy thật tánh của ngôn ngữ. Quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Đạo.
Mỗi âm thanh đều có độ ngân của nó, vì thế âm thanh là âm nhạc. Những lời khen tự nó không xấu, nhưng chấp vào thì nó trở thành độc dược. Khen hay chê đều không thể biến con thành kẻ khác. Hãy nghĩ những người chỉ biết chê bai người khác chính là Bồ tát hoá thân, chính nơi những vị ấy con hiểu được lời Phật dạy: Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không! Khi con điềm nhiên trước những âm thanh ấy là con đã độ được tâm mình, độ được kẻ ấy, mà điều đó cũng chính là kẻ ấy đã độ con.
Đôi khi, những âm thanh đi thẳng vào tim làm con khổ sở là vì con chỉ nghe một nửa, chính điều ấy mới là thân tướng xấu, mới là sự nghèo nàn. Đây là thần chú trị bệnh ấy: Hãy quán điều ấy trong tiếng trống, tiếng đàn, phổ trong một đoạn khúc, cho đến khi con trân trọng âm thanh ấy, thì đó là “thấy tự tánh ngôn ngữ là không”.
HỘI HOẠ
Con được mẹ hoạ tranh, quên được cái “Ta” của con thì vào được tranh mẹ hoạ. Tức tâm mẹ truyền cho. Hội hoạ là tướng của “Mỹ” (cái Đẹp), quan sát “Mỹ” như thế nào thì bức hoạ tả như thế ấy. Nếu con không quan sát “Mỹ” mà để “Mỹ” hoá hiện thành hoạ, thì con sẽ thấy tất cả vũ trụ này là hiện thân của cái đẹp toàn diện. Vì tất cả vũ trụ tuân theo quy luật hài hoà, cân đối tuyệt vời.
Con biết chăng, từng hạt bụi cũng có chỗ đứng của nó, cũng có số phận, cũng có bắt đầu và chấm dứt. Nói khác đi, cũng không bắt đầu hiện diện và không có diệt vong. Thế thì con vẽ gì đây? Con vẽ các sự vật thật có hay không thật có? Nếu thật có, thời nhận định của mọi người về một vật đều giống nhau; nếu không thật có, thời lẽ ra không một ai có thể nhận biết. Vậy khi con hoạ thế giới là con hoạ tâm của con đấy! Mà tâm ấy thì huyển vô cùng.
Thế thì lấy gì để nhìn thế giới? Lấy “Tánh Không” mà nhìn. Mà “Tánh Không” chẳng phải cần luyện tập mới có, đó là bản tánh của muôn vật. Một con ong không nhìn thấy cái đẹp của bướm, bướm không nhìn thấy cái đẹp của hoa như con tưởng, vì con mang nặng thành kiến của loài người, với bướm hoa chỉ là thức ăn. Và chính con, con đâu nhìn thấy cái đẹp của côn trùng, con mang ảo tưởng về thân người của mình, tận đáy lòng vẫn chưa chấp nhận sự thật là không có gì khác nhau giữa con và một con kiến, con mèo, cây cỏ; chỉ có sự khác biệt về nghiệp quả, mà nghiệp quả thì không thường hằng. Con không thích nghe tiếp, đó là “Ngã”, mà “Ngã” là bất bình đẳng. Con có cái nhìn buộc tội mọi người đó là bất bình đẳng. Con có ưa thích đó là bất bình đẳng. Thế thì, con làm sao thấy cái đẹp thật được mà hoạ. Bất bình đẳng là căn bệnh tàn phá vũ trụ. Ta thương vi sinh huỷ hoại những cơ thể lành mạnh đồng với một người nói Pháp, những vi sinh vật đó không nghiến răng gặm nhấm sức khoẻ con người, đó là những chúng sanh nghiệp căn quá nặng, hoá sanh vào loài ấy, phải sống trong môi trường ấy, hoàn toàn vô tội về nơi ở của mình, chúng không có ý chọn nơi, nếu chúng hiểu được cái khốn cùng của kiếp sống ấy, chúng sẽ tu. Và chính chư Phật cùng chư đại Bồ Tát dùng viên âm độ chúng, gọi Phật và Bồ Tát là y vương vì thế, trị lành bệnh muôn loài. Chí rận cũng thế, khi phát tâm tu, nghiệp dứt chúng không còn bị đoạ trong kiếp ấy, nên hoá sanh vào một thân tướng khác, không còn phải sống bằng máu. Điều ấy con phải hiểu, giải thích cho con rõ vì sao có người phát tâm tu thì gặp hiểm nạn. Phát tâm là một việc rất cao quý, đó là sức mạnh thu nhiếp thời gian, sức mạnh vượt qua sanh tử, thu bao nhiêu kiếp vào làm một, sức mạnh của người lội ngược dòng, sức của người chiến đấu với chính mình, sức mạnh của thiên nhiên. Đó là cái năng lực phi thường biến chúng sanh thành Phật! Cho nên, vẽ là phương pháp hữu vi. Tả, chỉ, lột được cái sự thật ấy, cái bản chất, cái hình dáng thật của mọi vật, thay vì uốn nắn thêm giả tướng theo ý mình.
Con có thấy tình yêu khiến con người đẹp ra như người vẫn tả không? Đó là vì khi thương yêu nhau thật sự, con người chỉ nghĩ đến làm những việc tốt đẹp cho nhau, bỏ đi những vụn vặt. Tóm lại, đó là biến tướng của Từ-Bi-Hỷ-Xả qua cửa ngõ ái dục. Điều đó cho con thấy cái đẹp không nằm ở kích thước. Trong cách nhìn người khác, con thường chỉ nhìn bằng nhục nhãn, chỉ thấy người tiếp cận với mình với một mặt phẳng, tâm trạng của họ lúc ấy, rồi sinh buồn-vui, lo-sợ…đó là chất huyển. Hãy nghĩ, vô lượng kiếp về trước, hoặc vô lượng kiếp về sau, người kia xử trí với con ra sao trong hoàn cảnh này; Và con, vô lượng kiếp về trước hay vô lượng kiếp về sau thì con phản ứng như thế nào trước hoàn cảnh trên. Mọi vật biết hiện vô chừng, tâm chúng sanh trôi nổi theo nghiệp duyên, không thể nào quyết định thật tướng nơi cảnh ấy. Khi con nhìn một sự vật, chẳng phải chỉ là mắt con nhìn thấy, mà là Thức, là Sở tri, là Kiến đã huân tập từ hằng vô số kiếp nhìn sự vật ấy. Từ vô số kiếp đã tích tụ vô số kiến chấp, hoá nên tất cả những phân biệt đây tốt kia xấu, màu đen màu trắng, giàu nghèo, thọ yểu, khinh trọng. Bỏ tất cả những kiến chấp này đi ngược lại vô thuỷ về trước, con sẽ thấy chỉ có ánh sáng vô cùng, không ngằn mé. Con người đã bỏ chiếc bóng của mình! Thế nên, con người là nguồn ánh sáng rực rỡ mà không tự biết, đi tìm ánh sáng bên ngoài để nhìn mình, để chồng chất thêm những màn đêm làm mờ đi ánh quang minh của tự thân. Màu mà con vẫn gọi là đen chẳng phải là màu đen, đó là một tập hợp ánh sáng màu ngũ sắc, màu cầu vồng, nổi bậc riêng sắc đen trên các màu khác. Con đường mà con vẫn đi qua chẳng phải con đường, đó là chiếc cầu vồng mà con vì chấp vào thân tứ đại, chỉ thấy đó là đất đá màu đen. Và người xấu, con phải nhìn họ trong hiện kiếp, kiếp quá khứ là người bị hà hiếp và vị lai bị nghiệp quả, thì tướng xấu ở đây là đâu? Quan sát như thế mới nên vẽ, quan sát như thế mới nên quan sát.
Thế nào Quán Tự Tại? Là ở nơi không hai lập cái thấy. Thế nào là không hai? Không có ta và vật, không đây và đó, không khoảng cách không chướng ngại, hoàn toàn tự do nên không gì là không biết, không gì là không thấy, không đâu là không đến được, và không biết tất cả những “không” trên, đó là “Tự tại”. Bố cục bức tranh lấy tâm điểm ở hai phần ba (2/3) hoặc một phần ba (1/3) khổ giấy hay vải. Màu sắc, chọn màu gần thiên nhiên hoặc màu mà con thấy bức thiết như một nhu cầu, đừng dùng lý luận bẻ nén sự vật, đảo lộn màu sắc, rồi theo đó mà vẽ, như thế là giả dối. Các bức hoạ Phật, Bồ Tát và Chư Thiên đừng vẽ bóng, chỉ dùng màu nước pha nhạt hoặc vẽ nét. Ánh sáng ở tự thân chiếu ra, trong cõi ánh sáng không cùng, màu sắc phản chiếu ánh sáng, ánh sáng phản chiếu ánh sáng, không thể có bóng. Hội họa là phản chiếu ánh sáng của các sự vật, con người. Hội hoạ là dùng màu sắc thuyết pháp, là đưa thế giới bên trên về gần.
Con hãy dùng hội hoạ mà cúng dường Chư Phật!
KHỔ ĐẾ
Đau khổ không phải là điều xa lạ đối với mọi người và với riêng con. Đau khổ đã là bạn đồng hành từ lâu lắm, thế thì có gì phải ngỡ ngàng. Đau khổ đến từ người này hay người khác, từ hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, điều đó có nghĩa gì đâu. Vì lẽ đơn giản là nó phải đến, nên mang hình tướng để gây hại cho sự bình tâm của con, đau khổ sẽ mang hình tướng ấy. Cho nên, đừng oán trách người làm con khổ, vì họ chỉ là công cụ của một sức mạnh ở ngoài chính họ, đó là sự đau khổ vẫn hiện hữu nơi thế gian. Đau khổ vò xé tâm cang tức một tướng của địa ngục rồi. Thế thì, đau khổ chính là địa ngục. Đã ở trong địa ngục là tận cùng, thì còn tự tử để đi đến cõi chết nào khác nữa. Vả lại, đau khổ là nghiệp đeo đẳng, há phải do người nào mang đến mà có nơi trốn tránh khỏi mắt nhìn. Chết là không chịu sự tác động của loài người và hoàn cảnh thế gian, nhưng chưa thoát khỏi nghiệp báo. Đau khổ sẽ mang hình tướng khác để theo đuổi con, và ở nơi không có thân để chịu quả báo, những cảnh khổ sẽ nhân lên hằng bao lần để tâm thức phải động và đau đớn như một đau đớn cảm được trên thân thức, là những cảnh của địa ngục. Cho nên, phải biết tự tử để thoát nỗi khổ đang gánh chịu tức sẽ dẫn đến địa ngục cõi khác mà thôi. Khi chưa là Phật, thì chưa thể nói được đã thoát khỏi địa ngục, khi chưa thể thoát khỏi địa ngục thì đừng mong không còn đau khổ. Vậy thì, đau khổ sẽ theo con cho đến ngày giải thoát. Cứ mặc nó đến, quan sát nó ở chân tướng chứ không ở giả tướng. Chân tướng của đau khổ khi đến với con là nghiệp, giả tướng là người hay hoàn cảnh chẳng thuận lòng con. Để hoá giải ác nghiệp chính là thiện nghiệp, hãy gây lấy thiện nghiệp để thoát khỏi bể khổ trần gian. Và điều thiện bậc nhất là ngay trong lúc này khi con đang khổ sở, hãy niệm Phật. Niệm Phật thì sẽ tỉnh táo để thấy được chân tướng của đau khổ, đau khổ tự đến thì tự nó sẽ đi. Không phải vì con xua đuổi mà đau khổ xa lánh con, bình tâm trước nghịch cảnh sẽ không cảm thấy đau khổ sâu xa như chính mình đang chịu khổ. Quán rằng, khổ này không cũ nhưng không mới, không tự tánh thì không tha tánh, không hoàn toàn của con. Vì nếu không có ngoại vật, tha nhân thì con không khổ, nhưng không lìa con, thì con cảm thấy nỗi khổ đau rõ ràng nơi con. Vậy, nó ở đâu? Không ở nơi con, không ở nơi người, do đó đau khổ là duyên hiệp thành theo nghiệp mà đến. Nói nghiệp tức là nói chính mình, đâu ai có thể trốn khỏi chính mình, cho nên đừng tự làm khổ mình. Nghiệp đến cứ đến, nghiệp đi cứ đi, được như thế thì đó là “Tâm không trụ”. Tâm không trụ thì an ổn, an ổn nơi oán hội, là thấy Niết Bàn tại thế. Để có đủ lực đạt đến Niết Bàn, con phải niệm trong đau khổ và quán trong cảnh nghịch. Tha lực và tự lực là sức mạnh mãnh liệt đến từ bên ngoài, phát ra từ bên trong thì hiệp nhất sẽ phá tan xích xiềng của địa ngục khổ đau. Đó chính là giải thoát. Đau khổ là nhân đưa đến giải thoát, nên đừng sợ nó, đừng ghét nó, đừng là kẻ vong ân, hãy cảm ơn đau khổ; như thế những người mang đau khổ đến cho con, chính thực là những vị Bồ Tát phát tâm hành nghịch độ, để cho con được quả thiện tròn đầy. Đó là những Bồ Tát trải thân làm cầu đường cho chúng sanh đi đến giải thoát. Và luôn nhớ, chư Bồ Tát không phải chỉ mang tướng thiện để độ sanh, hãy cầu nguyện cho các vị ấy sớm đắc quả vị Phật mới trả được ân. Phải tri ân những người mang đau khổ đến cho con, hành như thế mới là người trí huệ, hành như thế mới là con Phật. Đau khổ hay nghiệp chướng là nhân Bồ Đề, nên con không được khinh, không được hổ thẹn vì nó. Và chính vì Niết bàn có nhân ban đầu là Phiền não, nên con không được sinh tâm mong cầu tha thiết, chẳng trụ đau khổ, chẳng trụ Niết Bàn là chân thật Niết Bàn, là giải thoát. Con hãy y theo để tìm thấy hạnh phúc ngay trong đời, ngay từ giây phút này. Hạnh phúc tìm thấy nơi không có hạnh phúc, nơi không cho phép hạnh phúc tồn tại. Nơi cõi trần này là hạnh phúc vĩnh cửu, vì đã kinh qua đau khổ.
Con hãy tự cứu mình!
TẠI SAO TU?
Tại sao phải đặt vấn đề tu khi điều đó chưa là cấp thiết đối với nhiều người? Có người vào Đạo một cách tự nhiên, dễ dàng, nhờ căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trước; có người trong đau khổ cùng cực, chợt hiểu chỉ có tu mới thoát khổ, còn đại đa số không thấy cuộc đời đáng buồn đến độ phải bỏ nó, hay cuộc đời của mình suy đến cùng cũng chẳng có gì đáng phàn nàn, thì tu để làm gì.
Thật ra, ý niệm tu làm nhiều người sợ hãi, tu là từ bỏ những gì mình đang yêu thích thì quả là khó khăn, và không hứa hẹn điều gì tươi sáng cả. Thiện ác là hai mặt của cuộc đời, nhưng thiện ác cũng là hai mặt của mỗi con người. Và không thể dễ dàng để phân định ranh giới giữa hai khuông mặt này, không thể dễ dàng quyết định trắng đen. Mỗi người sanh ra đời đều mang sẵn liều lượng thiện ác trong mình, thiện là Phật mà ác là chúng sanh. Nhưng thế nào là thiện, và vì sao gọi là ác? Bất cứ một hành động hay tư duy nào không lấy “Tôi” làm nguyên nhân và đích đến thì đó là thiện, ngược lại là ác. Nhưng nếu không có “Tôi” thì ai hiện hữu, ai làm việc thiện ấy? Đó là Phật của con hay Phật trong con. Có người sẽ gọi đó là “Thượng đế” hàm nghĩa chân lý, điều toàn thiện, nhưng Thượng đế là ban bố, dù không nhận lại nhưng vẫn mang tướng thi ân. Còn Phật thì ngay cả ý thức thi ân cũng không có, Phật chính là sự tự tại của Thiện. Như thế thì ngoài bản ngã của con ra mà con nghĩ đích thực là mình, còn có một bản ngã khác là một đời sống tự do không lìa con, nhưng không lệ thuộc, sẵn sàng hiện diện khi con không tìm cách nhấn mạnh sự có mặt của mình như một thực thể chân lý. Bản ngã ấy là chân tánh của con, chân tánh ấy là Phật tánh. Không tìm thấy bản ngã thật ấy con phải đau khổ, phải bất an, con không bao giờ bằng lòng với cái mình đang có, hay bằng lòng với thế giới quanh con. Vì không thể nào sống yên ổn hoà bình với cái ác được, dù đó là cái ác của chính mình.
Tu là tự hoàn thiện mình, tu không có nghĩa là mất cả ánh nắng của cuộc đời, chôn vùi một cái gì thân thiết của con, mà con hãy sống hoàn toàn, tràn đầy như đập vỡ vỏ cứng của một quả ngon để thưởng thức. Không sợ chữ “Tu” thì con sẽ hiểu tại sao phải tu. Ai cũng có một lần cảm thấy sự bất lực vô cùng của mình khi đối diện với cuộc đời, dù là ai chăng nữa, họ có thể thành công trong những mặt nào đó, và lấy hào quang của thành công này che lấp những buồn tủi của thất bại khác, nhưng sự đền bù này cũng chính là sự xác định mặt khiếm khuyết kia. Cái nhân của đau khổ vẫn còn đó dù được che dấu dưới lớp tro than của quên lãng, hay nhung gấm của hạnh phúc hiện tiền. Người đời vẫn thường chấp nhận và bằng lòng với cái tương đối ấy, nên gút lại là hạnh phúc đối với họ giản dị quá, là cho qua đi những đau khổ và thụ hưởng những cái mà họ đang có. Đó là làm quen với ác và đi đến kết luận có thể dung hoà Thiện – ác. Vì ác là gì, nếu không là đau khổ? Nhưng còn một lối thoát, còn một con đường dẫn con đến nơi ý niệm về ác cũng không có, huống nữa là sự hình thành của tội ác. Bóng dáng đau khổ vắng bặt nơi đây, chỉ thuần một màu an lạc. Tại sao con không dấn thân vào con đường hạnh phúc chu toàn ấy! Con đường ấy là đường tu. Cho nên, tu là đến với những gì vui hơn cái mà con đang hưởng, những kỷ luật gặp trên đường tu là điều tất yếu để giải quyết chất ác, chính là sự hoại diệt của điều ác để hiển bày điều thiện. Sự hoại diệt này là nhân, là quả mà điều ác chất chứa trong nó nên phải lãnh chịu. Khi ác đã không còn thì không có sống chết, không có đau khổ, không có ranh giới, không còn phải khép mình vào căn phòng Thiện để đối kháng với ác. Thiện là con, con là thiện, thì điều gì con làm lại không là điều thiện, nơi đâu trong con lại không là không gian của thiện, thì còn phải khép mình vào một lề lối nhất định nào để hành thiện! Đó là giải thoát khỏi cái ác, khỏi đau khổ, khỏi cả ý niệm về đau khổ, khỏi cả ý niệm về sự giải thoát ấy. Đó chính là giải thoát!
Vì thế, tu không phải là từ bỏ hạnh phúc cuộc đời để đến với Đạo, tu là đi từ hạnh phúc mong manh đến hạnh phúc vĩnh cửu. Tu là vẫn hít thở không khí ấy, vẫn nhìn thấy vầng Dương cũ rực nắng mỗi ban mai, vẫn bầu trời đầy sao của ngày xưa tràn lên tâm tư mỗi khi đêm đến, vẫn những người con đã gặp bao lần, vẫn hoàn cảnh mà cuộc đời đã đặt con trong đó. Nhưng con ơi! Nhận thức của con chẳng còn như xưa nữa, mặt trời thế gian chỉ là hình ảnh thô thiển của mặt trời đã sáng trong con, những người con gặp gỡ là những chiếc bóng của chính họ, mờ nhạt và yếu ớt trước cuộc đời, trước sanh tử của mình. Và cuộc đời cùng những hoàn cảnh thuận-nghịch, buồn-vui xưa, nay chẳng còn chuyên chở được tình cảm của con, con đã thoát con nhỏ bé ngày xưa. Ngày xưa? Phải. Vì những căn tánh, nhãn quan cũ sau ý thức muốn tu và sau khi con dấn bước trở nên xa xôi và lạ lẫm, cứ lùi mãi vào vô tận mang tính vô thực của một huyền thoại nhưng thiếu chất hư. Con bây giờ mới thật sự sống. Hãy san bằng chướng ngại ngăn cách con với thường hằng, hãy làm người lữ khách mà mỗi bước chân đến cõi không thời gian nở đoá sen vô ưu, hãy là con mãnh sư uy dũng giữa đám người đành chịu khuất phục trước bao nỗi khổ sầu. Tu là một quyết định sáng suốt nhất trong đời người, không chỉ là sự sáng suốt của tuổi nào, mười, hai mươi, bảy mươi, tám mươi hay hơn… mà đấy là sự sáng suốt của vô lượng tuổi, vượt ngoài giới hạn của tuổi tác, là tiếng nói của Phật trong con, vang gọi con vào cuộc đại hành hương. Hãy đi, nhớ rằng hãy làm gương thắp đuốc soi đường, mỗi nỗ lực sẽ có vạn nghìn mắt Phật thương nhìn, mỗi vấp ngã sẽ có vạn nghìn cánh tay Bồ Tát nâng lên. Con đi bằng sức mình nhưng không bao giờ lẻ loi, không bao giờ cô độc hoàn toàn.
Hãy tấn tu!
CÚNG DƯỜNG
Cúng dường - biết bao cung kính, biết bao thương mến, biết bao nỗi niềm trong mỗi mỗi sự cúng dường. Có khi do một thôi thúc của thiện tánh, con mang lễ vật cúng dường Phật Tổ; cũng có lúc vì mong cầu một điều gì đó con cúng dường, hoặc vì thói quen, hoặc vì ai cũng làm thế, hoặc vì muốn đền đáp một cái ân mà con cúng dường Phật. Trong tất cả các tâm ấy, ý nghĩa thật sự của cúng dường nằm ở đâu?
Khi Phật bảo: Hãy mang hương hoa thanh tịnh đến lễ bái cúng dường chư Phật. Thì đó là tâm con thanh tịnh hay lễ vật thanh tịnh? Nếu tâm thật tịnh thì lễ vật thật tịnh, nếu tâm không kiên nhứt thì lễ vật cũng không thể là tịnh vật. Khi Như Lai nói “cúng dường” là bảo con hãy xả, hãy quên đi những “của tôi”, “thuộc về tôi”, “cho tôi” để tự cởi dần trói buộc. Việc ôm về cho mình là “tâm thủ”, mà “thủ” là tự trói mình. Khi con nghĩ chọn những thứ thật tịnh để cúng dường là tâm con đang định mà không tự biết. Không có một niệm về “ngã”, không có tạp niệm nào ngoài sự thật của lúc này: con đang chọn hoa tươi nhất, hương thơm nhất, quả ngon nhất để dâng Phật. Con thấy hoa, thấy hương, thấy quả mà không thấy cái thấy ấy, không biết cái tâm đã khiến con hành động, đó chính là đang sống với vô biên trong khoảnh khắc. Sống với vô biên là sống với Phật, vì thế mà Như Lai mới dạy: Hãy cúng dường!
Con lễ bái và cúng dường chư Phật có lợi lớn cho con. Vì sao? Vì điều đó làm tăng tưởng tín căn, đẩy lùi ngã mạn. Khi con lễ, đó là dấu hiệu của khuất phục, không phải Phật hay Bồ Tát đã khuất phục con, mà là kiêu căn, ngã mạn, kiến chấp đã bị sự khiêm cung của con khuất phục. Cho nên, cúng dường Phật chính là Đạo. Cúng dường thân mạng là bỏ tướng nhân, thọ, giả; cúng dường tài sản là diệt bỏ tâm tham. Còn cách cúng dường nào cho chư Phật quý hơn tất cả các thứ trên? Cúng dường thế nào để được giải thoát? Đó là cúng dường thức nào có thể khiến con và chúng sanh thoát khổ, thoát sanh - bệnh – lão - tử, thoát khỏi luân hồi, thức cúng dường có thể đáp đền được hồng ân của Phật, thức cúng dường cho Phật đúng sở nguyện của Ngài là mang lợi vô tận đến cho người dâng cúng, đó chính là “Pháp cúng dường”. Pháp cúng dường là tu thâm pháp, là hành Bồ Tát đạo, theo chân Phật làm lợi ích cho mọi người, trong chỗ hành không còn tâm vọng, hồi hướng tất cả công đức có được về chư Phật, đó chính là thật nghĩa của Pháp cúng dường.
Dâng chư Phật không phải những hiện vật kết thành bỡi đất - nước – gió - lửa, nên có hoại diệt, nên không toàn thiện; Dâng Pháp là thứ không thể hoại diệt, trường cữu, bất biến, tồn tại mãi với thời gian, là ngọc của chúng sanh, kết tinh bỡi một cuộc đời tịnh hạnh. Khi con cúng dường chư Phật tại thế, Ngài còn không thật có thọ các vật ấy, chỉ vì thương chúng sanh mà có giả thân, nên nuôi dưỡng giả thân cũng vì lợi ích chúng sanh, huống nữa là khi đã nhập Niết bàn. Nên khi cúng dường Phật là dâng tấm lòng thành, chứ Phật đâu dụng những thức cúng dường ấy làm vật sở hữu của Phật; và có tâm nào quý hơn tâm của một người tu, tại sao không cúng dường tâm ấy cho Phật! Tâm tu là Pháp tướng. Con thấy có gì quý hơn một người có thể nói với mọi người rằng: “Thưa anh chị! Tôi đã nhận chân được đau khổ, tôi đã chiến đấu với kẻ thù trong một trận một mất - một còn, và đã thắng. Chiến thắng đau khổ nên tôi không còn sợ sệt, vững chãi bước đi trên con đường vô ngã, vĩnh viễn bỏ lại sau lưng bóng đêm của chết chóc và tái sinh. Đau khổ không còn mang hình dáng của hận thù và giận dữ từng giây bóp nghẹn trái tim tôi, điều khiển tôi như con rối trong chiến tranh của “Ngã”, mà người chịu hậu quả cuối cùng vẫn là tôi; Đau khổ không còn mang hình dáng của tài - sắc dẫn tôi vào đấu trường của tham lam và mê đắm; Đau khổ không còn mang hình dáng của “vô tư lự” để độc ác có thể len vào khống chế tôi; đau khổ đã gục ngã dưới chân tôi, không còn bị xiềng xích của hận thù trói buột, nên tôi thương cả kẻ thù tôi, không còn một xích xiềng nào của tánh chúng sanh trói buột tôi được nữa. Nên, tôi là một người tự do. Hãy nghe tôi, đau khổ sẽ không còn là hình ảnh của nước mắt, vì mặt trái của đau khổ chính là hạnh phúc. Đi xuyên qua đau khổ như đi xuyên qua một trận bão, sẽ đến được bến bình an một cách không ngờ! ”. Làm được như thế và giúp mọi người làm được như thế, kẻ ấy đã không trụ tâm vào việc đã làm mà dâng tất cả cho chư Phật, gọi là hồi hướng hay cúng dường cho Phật. Đó chính là cách cúng dường cao quý nhất, tuyệt đối, gọi là Pháp cúng dường. Con cần phải hiểu, Pháp cúng dường là lòng tri ân sâu xa, sự kính ngưỡng vô cùng đối với chư Phật, thể hiện bằng hành động dâng cả cuộc đời cho Ngài, lòng tin không chỗ trụ, nên không điều kiện, không giới hạn vào giáo pháp của Ngài, và dùng tất cả các kiếp sống hiện tại và mai sau để hành thâm giáo pháp ấy. Như thế mới là chân thật cúng dường!
Phát tâm cúng dường Pháp chính là phát Bồ Đề Tâm. Phát Bồ Đề Tâm là đại nguyện không để Tam Bảo có cơ duyên hoại diệt, là tu giải thoát mà không lìa chúng sanh, là sanh tâm Phật Pháp, là con Phật. Khi con lập nguyện là đã trở thành con Phật, xem quãng đời trước kia như một chiếc áo cũ đã ném trả lại cho cuộc đời. Con nhìn lại sẽ thấy xa lạ với con của ngày trước, cái mà con vẫn tưởng là bản ngã thật của mình, chính mình đã rơi xuống, những cá tính làm nên con người con đã trở nên thừa thãi và có phần nào kệch cỡm cũng rơi xuống, để lộ một cái gì không tên, sáng chói tinh khiết vô cùng của nguyên sơ, tạm gọi “Chân Ngã”, chính là “Thánh Thai”. Nguyện lực đầy đủ thì chân ngã hiển lộ, nguyện lực chưa đầy đủ thì chân ngã chỉ lóe sáng rồi bị che lấp, tinh tấn siêng năng hành Đạo là nuôi dưỡng thánh thai. Đến ngày công hạnh đầy đủ, Pháp thân tức thánh thai xưa kia hiện đủ trong thân, thân nay trở thành hoá thân. Vì công hạnh viên mãn, quả báo viên mãn, nên báo thân là thân Phật, ba thân hiện đủ tướng là giải thoát, là quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, là Phật - Thế Tôn – Thiên Nhân Sư! Cho nên, phát Bồ đề tâm là nguyện rất lớn. Nơi đâu có người phát Bồ đề tâm là nơi ấy có chấn động, Thiên Long vì chúng sanh và vì vị Phật tương lai mà ủng hộ người đó.
Đừng sợ không đủ sức làm tròn lời nguyện, chỉ sợ tâm buông lung mà không quyết chí đi đến nơi. Chính khi phát nguyện là đã nói lên một thần chú bí mật, một đại thần chú có công năng dẹp trừ tất cả ma oán, chuyển bánh xe nghiệp quả trở thành bánh xe của Pháp, một vô thượng chú, biến người nói trở thành người không đối thủ. Như thế cách cúng dường cao quý nhất là Pháp cúng dường. Đã phát nguyện Pháp cúng dường thì con hãy vui mừng, an nhiên hành Đạo, chớ khởi tâm thối lui!
MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN
Hàng năm, vào tháng Tư là con lại hân hoan, náo nức chờ ngày kỷ niệm Phật giáng thế. Con mong chóng đến ngày Phật Đản để đến chùa lễ Phật, cùng gia đình tưởng niệm Thế Tôn, vị Thầy của tất cả chúng sanh biết nếm mùi Đạo pháp, vị Cha lành của chúng sanh còn lăn chìm trong sanh tử. Con phải quán về ngày Phật Đản như thế nào để hiểu về đại nhân duyên nhập thế của Đức Phật Thích Ca?
Trước khi Đức Thích Ca thị hiện có giả thân Thái tử Tất Đạt Đa, chân lý vẫn có, vẫn sáng tỏ, nhưng thiếu duyên lành, nên số chúng sanh tầm Phật đạo không bao nhiêu người đến được bến Giác Ngộ. Vì thế, Như Lai tạm mượn giả thân cùng chúng sanh đồng sự để chỉ bày con đường giải thoát từ chính nơi con đang ở, đang đứng, chứ không phải một giải pháp viễn vong, một con đường bắt đầu từ nơi khác. Đó là duyên lành lớn nhất của chúng sanh, được thấy vũng bùn mình đang ở và hoa sen mà mình có thể thành, nương theo duyên lành ấy là quy y Tam Bảo. Quy y Tam Bảo là “Tâm” quy chứ không phải “Tướng”, tâm đã quy y Tam Bảo thì hành tướng quy y sẽ đến. Bằng giả danh bảo rằng: Tâm đã quy y thì không cần tướng quy y. Những kẻ ấy chấp tướng là thật có, nên chỉ thiêng hướng về tâm cũng là một tướng khác của “Ngã”; còn những người chỉ có hành tướng quy y mà tâm thì không biết Phật, con hãy khoan bàn luận Phật Pháp với họ.
Con tưởng nhớ Đức Thích Ca Như Lai như tưởng nhớ một người đã mất thật là một sai lầm không sao nói hết. Thân Phật vẫn có đây, trong mỗi lời Ngài dạy, trong mỗi chiếc y mà con thấy, trong tâm của mỗi hành giả chân thành. Thân Phật không đâu khác ngoài tâm của con, tâm xa Phật thì chỉ có y là có Phật, người đắp y thì ở rất xa; tâm xa Phật thì chỉ có lời nói, chỉ có văn tự, chỉ có Phật Pháp là có Phật, còn người nói thì ở rất xa. Tâm xa Phật thì dù ở gần vẫn không thấy Phật, với những kẻ ấy Như Lai là người đã khuất, nên không còn Chánh Pháp, không có ai phân định chánh – tà, không có nhân quả báo ứng. Phật không có sanh và diệt, Phật đã thị hiện cho mắt trần nhìn thấy để chúng sanh biết rằng những chân lý mà nhục nhãn không thể thấy mới là bất diệt. Hiện tại, Thích Ca Như Lai vẫn đang thuyết pháp, sao mắt con không nhìn thấy, sao tâm con không cảm được! Cho nên, ngày Phật Đản là ngày kỷ niệm dành cho chúng sanh, chứ không phải dâng Phật. Con hãy hiểu như thế này mới là thật biết mừng ngày Phật Đản. Con mừng ngày Phật Đản là ngày Phật có trong tâm con, ngày con phát tâm theo Đức Phật vượt bể khổ trần gian, đó mới chính thật là ngày Phật Đản.
Ngày Phật Đản là ngày chư Thiên, Hộ Pháp, chư Phật, Bồ Tát mười phương thế giới lớn tiếng ngợi khen sự không thể nghĩ bàn của Thích Ca Văn Phật, Ngài đã thị hiện vào đường sanh tử để độ chúng sanh thế giới Ta Bà đi đến quả vị Phật. Chư Địa thần cũng phát tâm hộ trợ cho chúng sanh nào quyết tu Phật đạo. Cho nên đó cũng là ngày trời đất giao hoà, chúng sanh chịu hoạ báo trong địa ngục cũng được hào quang thánh đức của Như Lai soi tới, nên phát tâm Bồ Đề đông không kể xiết, gọi là ngày “địa ngục khai môn” cũng vì thế. Địa ngục đã hết đối với các chúng sanh ấy. Trong bầu không khí của ngày hội đó, con hãy lập ngày hội của con, con hãy cho mình một ngày hoàn toàn là của mình, gạt bỏ tất cả quá khứ, ngày hôm qua, gạt bỏ ngày mai và những toan tính về tương lai khỏi tâm trí. Chỉ có hiện tại, chỉ có ngày hôm nay, chỉ có Như Lai và con trong suốt ngày Phật Đản, thì mới thật là nếm được Pháp vị của ngày Phật Đản. Thời gian chỉ là chướng ngại khi tâm con còn chướng ngại, tâm không chướng ngại thì quá khứ không có nghĩa đã mất, vị lai không có nghĩa chưa đến. Nên, ngày lễ kỷ niệm Đức Thích Ca hôm nay không mảy may kém hơn 2600 năm về trước về mặt thực tế, cũng như về nghĩa vui mừng. Và tương lai cũng không vì thời gian xa hơn mà Thánh lễ càng xa Đức Phật. Như Mẹ tán thán công đức vô lượng vô biên của Như Lai, từ bi vô lượng vô biên của Như Lai trong ngày Thánh đản, chư Phật mười phương cũng đồng ngợi khen như thế. Nhưng con có đón ngày ấy với tâm trạng nào thì ngày ấy vẫn là ngày vui, là ngày vĩnh viễn đã tự tách rời khỏi quá khứ, đi mãi trong thời gian, hiện hữu mãi trong thời gian.
Khi con đến chùa cùng chư phật tử đảnh lễ Như Lai, thì phải thấy con đã lập Đạo tràng nơi tâm, đã thờ Phật nơi tâm, đã xây ngôi chùa bất hoại bằng Tam quy ngũ giới nơi tâm để phụng thờ Đức Phật. Và con đến chùa là để thỉnh Phật lên đài tôn nghiêm tại thế, chứ không phải là đến chùa rồi mới tìm Phật. Nếu con và tất cả phật tử đồng thỉnh Phật trụ thế, sự đồng tâm ấy làm nên một vị Phật duy nhất không có tướng phân biệt, sự đồng tâm ấy là thế giới đại đồng, là Phật tánh, và sự đồng tâm ấy chính là Phật vậy.
Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Đệ tử ngày hôm nay ngồi dưới Phật đài, chiêm ngưỡng tôn dung vô tướng hiện thân. Lễ này con nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai mừng đại nhân duyên Phật chuyển Pháp luân.
Lễ này con nguyện đồng tâm với vô lượng chúng sanh trong quá khứ, hiện tại, vị lai tán thán công đức không thể nghĩ bàn của Như Lai, vì chúng con đã chuyển Pháp luân.
Lễ này con nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai báo đáp thâm ân Ngài đã chỉ cho chúng sanh con đường diệt khổ.
Lễ Phật phải lễ bằng tướng và bằng tâm như thế mới thật là kính lễ. Con hãy vui mừng làm theo để trọn hưởng được khí lành ngày Phật Đản.
KINH ĐIỂN
Con đọc kinh điển trong tâm tướng nào, có bao giờ con tự hỏi mình như thế? Con không thể đọc kinh điển như đọc sách, thích thú với những đoạn hay, tò mò với những ý tưởng lạ, đọc như thế là tâm bất kính. Con vì thế vô tình đóng cửa chân tâm, lòng không để tác động của thần lực phát ra từ kinh điển chuyển mình, nên cũng khó có thể hiểu được nghĩa kinh. Kinh điển là sự kết tập lời nói của Đức Phật Tổ, lời nói ấy là văn sống động, giản dị, dễ hiểu, đại chúng, ở ngay trong đời sống tầm thường bình dị của mỗi ngày; chỉ bày những chân lý thật nhưng có thể nắm bắt được bằng thân, thật dưới sự có mặt vô hình đối với mức thường của gió (?).
Đọc kinh là học, là nghe kinh. Khi mở quyển kinh, lòng của con cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự kính tín của người muôn dặm thỉnh kinh. Hãy cẩn thận, muôn dặm đường xưa nay nằm trong tâm con đấy. Lời nói của Phật Tổ một bản ngã vô ngã chính là Pháp, đó không còn là lời nói, không còn là ngôn ngữ văn tự, đó là chân lý tuôn tràn, ẩn chứa trong ấy tất cả sức mạnh của vũ trụ, của tánh “Không”. Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên có chúng sanh mới có Pháp là thế. Muốn biết chắc rằng con hiểu đúng tinh thần quyển kinh mà con đọc, trước hết phải tận tường nhân duyên thuyết kinh ấy, sau phải nắm được mật chỉ trình bày xuyên suốt tất cả lời lẽ của kinh. Dù Phật có thuyết bao lời lẽ cũng để diễn bày mật chỉ ấy; mật chỉ ấy, mật mà không mật, thường chính là Tự của kinh. Những người nhân nghe một câu kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền ngẫm vấn đề của mình từ rất lâu, tâm đã đạt chỗ “tri hành hiệp nhất”; lời nói và việc làm là một, nên chỉ cần một cái gõ mạnh trợ duyên là bừng sáng, đó là người đã sẵn chứa tạng Kinh trong tâm, người khác cũng có mà cũng không, vì chưa tự thấy biết tạng Kinh của mình. Lời nói của người có thể khiến người khác bỏ những việc khó bỏ, làm những điều khó làm, ắt hẳn không chỉ là lời nói.
Giở một trang Kinh là nghe tiếng nhạc trời, đọc một dòng chữ là thấy hào quang toả sáng, đón nhận nghĩa lý như là uống giọt cam lồ, con sẽ là người sống cùng thời, được nghe chính tiếng Phật thuyết giảng. Không đọc kinh điển trong tinh thần thu thập kiến thức, thì kinh điển bao giờ cũng mang lại lợi ích nhất định cho con, vì “Kiến” đã là chướng ngại rồi. Đọc kinh trong trạng thái tinh khôi, thì tâm hồn con là tờ giấy trắng được in đậm chân lý giải thoát của chư Phật. Con hãy đọc kinh điển trong tinh thần ấy!
KINH PHÁP HOA
Nghe kinh Pháp Hoa và trì tụng con được an ổn thân tâm, nhưng để hiểu và hành thì con chưa đạt được điều ấy. Vần đề ở chỗ là phải tìm hiểu và quán, tu trong kinh là “Tri kiến Phật”. Tri kiến Phật đó là sự thấy biết của Phật Đà, đó là trí huệ viên mãn tột cùng. Nói tất cả mọi người, mọi vật đều có Phật tánh là nói tất cả chúng sanh đều sẽ được Tri kiến Phật, hay chúng sanh đều là Phật, điều này con thật khó mà tin được. Vì sao? Vì con chưa thấy, chưa được, chưa ngộ Phật tánh, Phật tri kiến nên không nhìn thực thể như nó vẫn thường hằng.
Như khi con buồn, tìm an ủi, quân bình cả tâm hồn trong sự chiêm ngưỡng tượng Phật. Đau khổ ngập trong lòng, nên trông tượng Đức Di Lặc con không cảm được từ tâm của Ngài, vì tượng Đức Di Lặc Bồ Tát là biểu tượng của Pháp hỷ, sự an ổn vô song về mặt tâm linh, điều thật xa cách với tâm trạng hiện tại của con. Con trông tượng Phật Tổ để thấy Ngài không gần gũi trần gian, con nhìn hình tượng các vị Bồ Tát với nét thương cảm chúng sanh qua gương mặt đượm buồn và nhận rằng đích thật đây là Phật của con, con cảm thấy một mối giao cảm đặc biệt với vị ấy và mở lòng cầu nguyện. Thật ra, chư Phật vẫn đồng tâm thương xót chúng sanh, nhưng chỉ vì kiến chấp của con mà Phật hoá chẳng đồng. Ở nơi “Không” lập các Pháp là chư Phật tùy tâm địa của chúng sanh mà thuyết giảng, với người thích Giáo pháp Thanh văn, Phật vì đó nói Pháp ấy là Thanh văn; với người thích Đại thừa, Phật vì đó nói Pháp ấy là Đại thừa; nhưng đâu phải vì danh tự “Đại thừa”, “Tiểu thừa” mà các giáo pháp không phải xuất sanh từ Phật tri kiến, các Pháp sai biệt ở văn tự bản tánh vốn là sự Giác ngộ của Phật, không hề khác nhau. Vì thế, muôn Pháp đều dẫn đến Giác ngộ. Dù hàng Thanh văn không biết, không hay Phật đã gieo Phật trí nơi mình.
Một người cư xử không phải với con, ức hiếp con, con thở than, buồn bã hay giận dữ. Tại sao? Tại sao con cần phải phản ứng lại sự việc trên như thế? Có phải vì trong con những ý niệm về bất công, ức hiếp vẫn còn đầy dẫy, nên con cảm thấy sự bất công, tức là chính con cũng không khác người kia. Như thế con có thực sự tốt hơn người kia, con là thiện và họ là ác không? Tuy con không hành ác nghiệp nhưng tâm không lìa ác, nên tất cả giai đoạn nhân quả của điều ác vẫn diễn biến đầy đủ trong con, đó là sự thấy biết của chúng sanh. Nếu trong cảnh “oán tắn hội” đó, đau khổ của con chuyển thành thuận cảnh, con sung sướng biết bao! Thế nghĩa là trong đau khổ có mầm hoan lạc, hạnh phúc đến sau khi vượt qua đau khổ là hạnh phúc có sự dự phần của trí huệ. Trí huệ là giai đoạn mở đầu tri kiến Phật.
Trong một hoàn cảnh tuyệt vọng, con vẫn còn niềm tin vào điều vượt ngoài phạm trù của lý trí sẽ xoá tướng tuyệt vọng mà con đang nhận biết rõ ràng, niềm tin ấy khiến con niệm Phật cầu thoát khổ, cầu điều kỳ diệu, đó chính là niềm tin vào bản tánh thiện vẫn chi phối vũ trụ. Sợ hãi là tin vào sự chiến thắng của điều ác, nếu có một sự tin tưởng tương đương vào điều thiện thì sợ hãi tiêu tan. Phải chăng giây phút cầu nguyện ấy, con vượt qua tướng thời gian, nên vượt qua tướng của sanh tử, đã nói với hiểm nguy, với tứ đại, với giả duyên, với tam nghiệp rằng: “Bất chập sự cản trở của các ngươi, bất chấp sự trói buộc mà các ngươi đang giam giữ ta, ta cũng tiến lên, tiến mãi về phía trước, về cảnh giới có tri kiến tuyệt đối, sẽ giải thoát cho ta khỏi hoàn cảnh hiện tại”. Đó là vươn tới Phật, và tri kiến Phật như một phép mầu, phải đưa con vào nước “Trí” (?). Sự mầu nhiệm mà con mong cầu phải đến, vì bản thể Phật vốn không hạn lượng, không cùng tận, nên không gặp cảnh trái nghịch, luôn gặp thuận cảnh.
Đề Bà Đạt Đa là Phật, vì đã chỉ cho chúng sanh thấy định lực của Phật Tổ; Đề Bà Đạt Đa là Phật, vì đã phỉ báng Phật, ghét Phật vì Phật là Phật. Hình ảnh của Phật là hình ảnh mà Ông chối bỏ, tức là ý niệm về Phật có trong Ông. Người ta không thể phản đối một hình tượng không hề hiện hữu. Nghiệp chướng, chúng sanh kiến ngăn trở Đề Bà Đạt Đa phản Phật, hoà nhập vào Phật, thấy Phật nơi mình, nhưng Phật trong Ông vẫn hiện diện. Tại sao con lại nghĩ rằng Ông ta ghét Phật, mà không biết rằng Ông chưa bao giờ không kính Phật! Ghét hay thương chỉ là hai cách tiếp nhận một tiền đề sẵn có, cách này hay cách kia là phương tiện diễn đạt, nên tướng ghét cũng như tướng thương kính mà thôi! Đề Bà Đạt Đa là Phật thị hiện làm Bồ Tát độ oán tắn.
Phải biết rằng mọi sự con vẫn thường cho là thuận - nghịch từ chỗ đứng của con, đều không thật. Tâm con đem vào những phán đoán, mà tự thể các hiện tượng hay Pháp ấy không có. Ví dụ: Con vẫn cảm thấy mặt đất rất vững chắc, từ bao kiếp vẫn cho rằng vòng tay của đất đáng tin cậy vô cùng; nhưng hãy thử tưởng tượng, nếu mặt đất trở thành trong suốt, thì bầu trời mênh mông đáng sợ trên đầu lại vẫn có dưới chân, con không có nơi trú ẩn an toàn, con sẽ thấy chân lý trời trên đầu và đất dưới chân trở thành nghịch lý. Nước chảy xuôi chỉ là giả tướng, hãy tìm tướng xuôi ngược nơi tâm, và luôn nhớ không thể tin vào con để quyết định chân tướng của sự vật.
Vì sao con phải lễ Phật? Vì Phật ở ngoài. Không đảnh lễ vị Phật ở trong ư? Như thế vẫn chưa thấy Phật. Đảnh lễ Phật mà không hướng vào đâu, không hướng về phía trước, không hướng về phía sau, không trên, không dưới, không phía trong, chẳng phải không phía trong, lìa tướng quỳ, tướng đứng vào nơi vô biên, đó là “Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”.
Hoa sen mọc từ bùn nhơ lại có mùi thơm ngào ngạt, đó là nhờ mọc từ bùn mà có hương, hay bản chất của sen là thơm? Từ nơi muội manh (?) lại nảy điều cao quý, chính vì tánh của bùn vốn không nhơ. Tướng bùn lầy là phương tiện cho hạt giống nẩy mầm, vì muốn chỉ tánh của bùn và sen là một, nên hoa phải chấp tướng hiện hữu. Nếu không muốn chỉ tánh ấy thì vắng bặt tướng tịnh và bất tịnh, vắng bặt nói năng, tên gọi, không có tướng thiện-ác, chúng sanh và Phật. Tánh không tên ấy khi động thì hoá ra vũ trụ, không động thì vô hình, rắn hơn sắt đá, tạm gọi là “Tánh Không”. Ngộ tánh không của vạn vật là ngộ Phật tri kiến.
Không ghét người xấu, không ngại đau khổ, với sức kham nhẫn vô biên, thề tận độ chúng sanh thành Chánh giác, tất cả chúng sanh chưa thành Phật thì con nguyện chưa thành Phật. Đó là Pháp môn tự tu dẫn đến Tri kiến Phật. Có phát tâm như thế mới có thể hiểu kinh Pháp Hoa, mới thật trì kinh Pháp Hoa, đó mới chính là thật hành Diệu Pháp.
Con hãy phát tâm!

* Vì băng ghi âm đã quá cũ, nên có một số từ chúng tôi không thể nghe rõ hoặc phỏng đoán được, xin đánh dấu (?) phía sau những từ ấy để quý vị lưu tâm.

TÀI NĂNG VÀ ÐỨC HẠNH
THIỆN TÀI

Tài năng và đức hạnh là mục tiêu hướng đến để tự hoàn thiện của mỗi con người. Tài là năng lực, khả năng của con người được biểu hiện tốt trong một lãnh vực, cũng như ta gọi làm việc giỏi, có hiệu quả là tài. Tài, đức là cái đạo để lập thân. Những phẩm chất tốt có nơi con người gọi là Đức, khi biểu hiện ra hành động việc làm thì mới gọi là Hạnh. Có nhiều quan điểm bất đồng về đạo đức, song khái niệm đạo đức đúng đắn và chân chính nhất vẫn là những phẩm chất tốt của con người, những hành động việc làm có ích cho bản thân và nhân quần xã hội.
Ðức hạnh và tài năng là hai yếu tố chủ yếu mà con người cần có để hoàn thiện mình. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất lên cao thì con người nghĩ rằng tài năng là điều kiện tiên quyết quyết định mọi vấn đề. Những công trình nhà cửa, máy móc.v.v. đều là sản phẩm của tài năng, trí tuệ. Ðó là những thành quả của quá trình lao động và sáng tạo, nó có giá trị làm cho đời sống con người trở nên sung mãn và thoải mái. Con người rất hãnh diện về những thành tựu ngày nay và đã không ngần ngại mạnh dạn đưa tài năng lên vị trí hàng đầu. Nhưng họ đã quên rằng điều cần hướng đến của mỗi con người là một đời sống an lạc, hạnh phúc.
Thời đại ngày nay con người đã thật sự tìm thấy hạnh phúc chưa? Nó chỉ là một cái bóng mờ không hơn không kém. Ðời sống vật chất càng cao, nhu cầu về công việc càng nhiều. Con người phải làm việc như một cái máy không tìm được chút thảnh thơi. Con người tiếp xúc với máy móc nhiều hơn là tiếp xúc lẫn nhau. Họ không có thời gian để gần gũi nhau, san xẻ tình cảm cho nhau hay trao đổi với nhau những điều cần thiết. Con người trở nên khô khan tình người, sống máy móc và đối đãi với nhau tệ hại. Khoa học càng phát triển, con người càng lo sợ nhiều hiểm họa. Chiến tranh chết chóc, bệnh tật là mối đe dọa lớn nhất. Con người sống trong nỗi lo âu thấp thỏm không an. Những nơi đang diễn ra chiến tranh, con người sống trong nỗi kinh hoàng sợ hãi. Nguy cơ hủy diệt bởi những vũ khí tối tân như bom hạt nhân, nguyên tử, vũ khí sinh học .v.v. là hậu quả ghê gớm nhất của nền văn minh hiện đại.
Một đời sống vật chất dồi dào chưa hẳn đưa đến hạnh phúc cho con người. Nó cần nhưng không có vai trò quyết định. Hạnh phúc thật sự chỉ có khi tâm hồn an ổn; cuộc sống có niềm vui, khi con người biết đủ. Hạnh phúc không thể xây dựng bằng lòng tham lam không cùng tận, bằng sự sống loạn thác cuồng.
Con người nghĩ rằng có tài năng thì có thể lấp bể vá trời, tự làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, nắm hạnh phúc trong tay. Con người bỏ quên đạo đức, xem nhẹ giá trị đạo đức, không quan tâm trau giồi những phẩm chất mà một con người cần phải có. Con người mãi chạy đuổi theo những lý tưởng ngông cuồng và dại dột để rồi làm xã hội ngửa nghiêng, đời mình điên đảo. Càng có tài năng càng gây ra nhiều tác tệ một khi tài năng đó không được sử dụng vào mục đích có ích cho mình và cho nhân quần xã hội. Một người có đầu óc sắc xảo nắm giữ vị trí quan trọng trong xã hội mà không có đạo đức thì nguy hiểm biết chừng nào. Một kẻ hành nghề trộm cướp còn không đáng sợ, tác hại không to lớn bằng một ông giám đốc tham lam của công và ưa ăn hối lộ, hay một kẻ nắm quyền cầm cân nảy mực mà không công chính nghiêm minh. Nói như thế không có nghĩa là không cần phải có tài năng. Một người ngu dốt thì cũng chẳng làm được gì, thậm chí còn có khi vô tình trở thành kẻ phá hoại. Người không có trình độ hiểu biết, không có tài năng thì không giúp ích được gì cho bản thân và xã hội, làm việc gì cũng chẳng xong, nhưng người có tài mà không có đức hạnh thì sự tàn phá của nó còn lớn hơn.
Chúng ta mỗi con người cần có đủ đạo đức và tài năng, cũng như trong xã hội cần có những con người có đức tài toàn vẹn. Một người có đủ tài năng và đạo đức là một người hữu dụng. Xã hội loài người có phát triển và tồn tại vững bền hay không, con người có thực sự tìm ra hạnh phúc cho chính mình hay không, điều đó còn tùy thuộc vào nhận thức đúng hay sai về tài và đức. Có tài để xây dựng xã hội và có đức để bảo vệ giữ gìn
Tại Sao Tràng Chuỗi Lại Dùng 108 Hạt?
Thích Phước Nhơn

Phật giáo nhìn vào vũ trụ nhân sinh, không phải là duy vật, không phải duy tâm, cũng không phải là duy thần. Mà Phật giáo nhìn vào sự hình thành của con người ở ba trạng thái kết hợp nhau là tâm, sinh và vật lý. Hay nói bằng danh từ Phật học là sự duyên hợp của ngũ uẩn, tứ đại; hoặc căn, trần và thức. Căn là nói về sinh lý, trần là vật lý, và thức là tâm lý. Căn, trần và thức tụ hội nhau để tồn tại. Nếu lìa một chỉ còn hai thì thế giới sẽ không tồn tại. Vậy căn, trần, thức là gì?
Căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Từ nơi sáu căn tiếp xúc sáu trần sanh ra sáu thức. Thức tạo tác vọng động, tạo nghiệp hoặc thiện hoặc ác để trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Dụ như mắt nhìn thấy sắc đẹp của một người (nam hoặc nữ), liền khởi tâm say đắm, từ nơi đắm mê sắc đẹp mà tạo nên hành nghiệp. Cho đến tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi thơm, thân chạm xúc những chỗ trơn láng mềm mại, ý suy nghĩ ghét, thương, hận, thù…Lục căn là công cụ sai khiến của lục thức để tạo tác hành nghiệp thiện hoặc ác. Từ nơi hành nghiệp tích tụ chứa nhóm mang đi trong sáu nẻo luân hồi, từ quá khứ đến hiện tại, và, sẽ tiếp diễn trong tương lai; để chịu khổ trong vòng luân hồi.
Quá khứ do sáu căn không thanh tịnh, chạy theo trần cảnh khởi lên đắm trước tạo nghiệp: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Và trong đời vị lai ta lại cũng theo con đường cũ tạo nghiệp sanh tử tham, sân,… nầy mà đi.
Từ nơi mắt thấy sắc tạo nên sáu món căn bản phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; cho đến mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, mỗi căn đều tạo nên sáu phiền não căn bản giống nhau: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Mỗi căn chúng ta có sáu thứ căn bản phiền não, và; như vậy, sáu giác quan đã tạo nên 36 thứ phiền não trong đời sống thường ngày.
Do đó, như trên đã nói cuộc đời của chúng ta liên tục nối tiếp trong ba đời từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Như vậy, trong ba đời ta đã tạo thành 108 thứ phiền não để làm hành trang trong đoạn đường sanh tử không cùng tận. Cho nên, bây giờ chúng ta lần tràng hạt 108 lần trong khi niệm Phật, là quyết tâm đoạn trừ 108 món phiền não mà mình đã tạo trong ba đời. Đoạn trừ 108 món phiền não cũng có nghĩa là làm cho sáu căn thanh tịnh.
Sáu căn từ trước đến nay chạy theo sáu trần, khởi lên sáu món phiền não căn bản: tham, sân, si,….bây giờ ta lần tràng hạt niệm Phật, là ngăn cản không cho sáu căn vọng động chạy theo cảnh trần, và, giúp cho sáu căn quay về với tự tánh. Sáu căn cảm nhận sáu trần sanh ra sáu thức, thức vọng động tạo nghiệp luân lưu trong vòng sống chết. Lần tràng niệm Phật là không cho căn nhiễm với trần; căn không nhiễm trần tức căn thanh tịnh, căn đã tịnh thì nghiệp không còn, nghiệp đã dứt sanh tử đoạn diệt. Ấy gọi là giải thoát, hoặc vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.
Thấu triệt được lý đạo như vậy thì không còn vọng niệm phân biệt pháp tu này hơn pháp tu khác. Hoặc cho rằng đức Thích Ca xưa kia do Thiền Tọa mà thành Phật chứ không phải niệm Phật mà thành chánh quả. Hoặc còn tệ và vọng niệm hơn khi tuyên bố rằng: thầy Tổ đã khuyên bảo ta trong thời mạt pháp lấy pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh là trốn tránh, không thích ứng với lời Phật dạy.
TẬP SỐNG HẠNH BUÔNG XẢ
Thích Minh Dung

An lạc và hạnh phúc là điểm mơ của cuộc đời mà con người ai cũng mong mỏi để đạt tới. Những nhà xã hội, chính trị, tôn giáo... tất cả mọi cố gắng của họ cũng không ngoài mục đích mang lại sự bình an và hạnh phúc cho cuộc đời. Hoặc sự vượt biên hoặc sự miệt mài trong các trường đại học hoặc phải làm hai hay ba việc trong một tuần của bạn cũng không ngoài ý muốn trên.
Tất cả mọi cố gắng của bạn để làm sao mình có được danh phận và đồng tiền. Vì hai sự kiện này rất cần thiết trong một đời sống có an lạc và hạnh phúc. Những cao sang vật chất đóng phần rất quan trọng cho một đời sống ổn định. Để từ đó, bạn cảm thấy mình bớt âu lo và sợ hãi hơn. Do vậy, bạn cần phải kiên trì học hành, vươn lên trong cuộc sống và nỗ lực làm việc. Mọi suy nghĩ tiêu cực và oán ghét cuộc đời thường dễ đưa bạn đến sự hủy diệt sự sống và chẳng giúp gì nhiều cho bạn có được một tâm hồn an lạc và hạnh phúc.
Bạn đang chăm chỉ học hành và làm việc. Đời sống bạn tạm ổn về mặt kinh tế, nhưng bạn vẫn thường thấy mình có nhiều khổ đau và phiền muộn. Đành rằng vật chất, bằng cấp, kiến thức và danh phận đã giúp bạn có thật nhiều hạnh phúc nhưng có nhiều thứ khác bạn thiếu lưu ý đã tạo những phiền muộn cho bạn không ít. Như một căn nhà cao sang, bạn trang trí nhiều bức tranh đẹp và những tiện nghi nhưng cùng một lúc bạn lại mang vào nhiều rác rến và gai gốc. Chính những gai gốc này đã làm cho bạn mất đi thật nhiều sự trang nhã và cao sang của căn nhà. Nếu bạn biết học hỏi và thận trọng hơn để ngăn ngừa những phiền muộn có thể xảy ra bất cứ lúc nào chung quanh bạn như rác rến kia thì quả thật bạn là người sung sướng nhất thế gian này.
Có bao giờ bạn tự suy nghĩ đến những sự việc nào mà nó làm tiêu hủy an lạc và hạnh phúc mà bạn đang vun xới không? Ngoài những điều trên bạn đang miệt mài, còn cách nào bạn có thể xây dựng một đời sống với nhiều an lạc và hạnh phúc? Đây là hai câu hỏi thật là quan trọng giúp cho bạn thực hiện một đời sống bình an và ý nghĩa.
Có nhiều lý do từ bên ngoài và bên trong tâm hồn, đã tạo cho bạn khổ đau không ít. Chẳng hạn, bạn phải sống với một người mà bạn không thích. Bạn phải nghe những điều mà bạn thật sự không muốn nghe. Bạn bị vu oan một cách cay nghiệt. Bạn giận giữ một ai lâu ngày trong lòng. Bạn ray rứt, ăn năn một lầm lẫn. Bạn ích kỷ và rất thờ ơ trước sự đau khổ của người khác... Tất cả những sự việc này như là những ngọn lửa cao hực cháy trong lòng bạn. Vậy thì làm sao mà bạn có được an lạc và hạnh phúc cho dù bạn đang có thừa đời sống vật chất. Những thứ này không khác gì những con vi trùng ung thư đang tiêu hủy những hồng cầu của bạn. Bạn phải tìm thấy những nguyên nhân đưa đến sự phiền muộn một cách thường trực thì bạn mới có thể chuyển đổi được sự khổ đau. Cũng từ đó, bạn mới tìm ra phương pháp nào để đối trị nó được. Bạn muốn thật sự có an lạc và hạnh phúc trong cuộc sống, thực hành pháp buông xả là một bí quyết giúp bạn có nhiều niềm vui cho chính bạn và những người chung quanh.
Hạnh Buông Xả là gì? Buông xả là buông bỏ. Bạn buông bỏ mọi phiền muộn từ bên ngoài và chính bên trong tâm bạn. Bạn buông bỏ sự ích kỷ và nhỏ mọn. Bạn rủ bỏ nó như rủ bỏ một chiếc áo rách và nhớp nhúa lâu ngày. Tất cả chúng là những mùi tanh đang bám vào người bạn. Bạn phải chiêm nghiệm chúng một cách sáng suốt và thẳng thắn xác định rằng, phiền muộn là khí độc đang bao trùm lấy bạn, bạn phải dứt khoát buông bỏ. Buông bỏ được thì an lạc đến. Bạn lưu ý cho rằng khổ đau và an lạc là hai mặt trái và phải của một bàn tay. Chúng luôn luôn đi theo dạng tỷ lệ nghịch với nhau. Khi bạn có nhiều an lạc thì khổ đau ít xuất hiện và ngược lại. Như một ly nước, nếu bạn cho nhiều màu xanh thì màu trắng mất. Làm thế nào bạn có thể tập hạnh buông xả trong đời sống hàng ngày.
1. Hãy tập buông xả với chính bạn trước: Ta là nơi nương tựa của chính ta. Đức Phật thường hay khuyên chúng ta như vậy. Bạn phải trở về chiêm nghiệm và thực tập nơi chính con người bạn. Chính bạn đã tạo cho bạn phiền muộn không ít. Bạn phải tập buông bỏ những khổ đau trong tâm hồn do chính bạn gây ra. Bạn thực tập hạnh buông xả tức là bạn đang thực tập hạnh từ bi—thương yêu. Bạn phải ý thức một cách sáng suốt rằng chính bản thân bạn cũng là một sinh mạng như bao nhiêu sinh mạng khác. Hãy tập thương yêu ngay từ chính bạn. Hãy tập thương yêu để buông xả, trong ấy những vấn đề mà bạn thường gây ra như sau:
a. Sự ân hận dai dẳng: Trong những sinh hoạt thường ngày, bạn thường làm những điều phiền muộn đến những người chung quanh một cách vô tình hay cố ý. Nhưng sau đó bạn cảm thấy ăn hận vô cùng. Nhận biết lầm lỗi chính mình là cửa ngõ đầu tiên cho mọi thánh thiện trong cuộc sống. Không biết mình làm điều sai thì làm sao có thể sửa đổi được. Hành động sám hối của bạn chỉ có thể xảy ra khi nào bạn thật sự đón nhận lầm lỗi của mình một cách tha thiết. Nhưng sau khi ăn năn xong thì bạn cần phải buông xả ý niệm ray rứt triền miên trong thời gian qua đó. Vì, nếu bạn cứ tiếp tục ôm giữ sự ân hận ấy thì chẳng mang lại cho bạn một chút an lạc nào cả. Như một chiếc áo đã giặt sạch, bạn không nên vô tình giày vò nó để tạo nên những nhàu nát đáng tiếc.
Bạn lưu ý cho rằng, buông xả tâm lý ân hận dai dẳng không có nghĩa là đồng lõa với mọi sự dễ dãi. Bạn phải thật thận trọng để quan sát những hoạt động của tâm lý bạn trong chiều hướng này. Một khi ý niệm dễ dãi để cho một lầm lỗi trôi qua thì bạn không thật sự có nhiều ân hận. Đã không có nhiều ân hận thì làm gì có sự buông xả. Đây là một sự dễ dãi và bạn lại khởi đầu cho một ác nghiệp mới chồng lên ác nghiệp cũ. Như, làm cho một người khác đau khổ vì lời nói thiếu từ tâm của bạn. Bạn biết nó sai và bạn hời hợt dễ dãi bảo rằng, thôi thì hãy quên chuyện ấy đi. Buông xả sự ân hận dai dẳng ở đây không nằm trong ý đó. Vì rằng, bạn không có chút mảy may gì ray rứt việc lầm lỗi của bạn. Hai tiếng buông xả chỉ được phát xuất bằng tất cả lòng tha thiết thành khẩn và ăn năn chính bạn.
Một đêm thật khuya, sau khi hoàn tất mọi công việc đèn sách hoặc những chuyện khác, bạn ngồi yên lặng trên giường hay nơi phòng khách với tư thế trang nghiêm, nếu được bức tranh đức Phật thì tốt. Thế giới lúc này thật tĩnh lặng và chỉ còn lại bạn và đức Phật thôi. Bạn trình bày với Phật về sự việc lầm lẫn của bạn và nó đã mang lại cho bạn thật nhiều ân hận và khổ đau trong tâm hồn. Bạn thành khẩn sám hối. Bạn tha thiết đọc câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Hồng hay niệm bất cứ một danh hiệu Phật nào để cầu xin Phật lực làm tiêu trừ tội lỗi của bạn vừa qua. Nếu bạn thật sự ăn năn thì nước mắt bạn sẽ dâng trào hoặc một cảm giác lành mạnh chạy khắp trên thân hình của bạn. Bạn cúi đầu đảnh lễ đức Thế Tôn và cũng chính trong lúc ấy bạn quyết liệt rủ bỏ tâm lý ân hận đã bám chặt trong lòng bạn trong suốt thời gian qua. Sự an lạc và hạnh phúc đang đến với bạn.
b. Buông xả lòng ích kỷ: Sự ích kỷ sẽ làm cho tâm hồn bạn nghèo nàn và cô lập với thế giới chung quanh. Chia xẻ sự khổ đau của những người chung quanh sẽ giúp cho đời bạn có nhiều niềm vui hơn và được nhiều người kính trọng hơn. Khó có ai mà ghét bạn một khi bạn tỏ ra rất cảm thông với họ. Như trong trường học, bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi một thầy giáo thông cảm được bạn là người Á châu và ngôn ngữ bạn không phải là tiếng Mỹ. Bạn học cởi mở cõi lòng bạn. Sống vì người khác và cho người khác cũng có nghĩa là sống cho chính mình. Phật Thích Ca vì thương yêu mọi người, Ngài đi truyền đạo từ thôn quê đến phố thị suốt năm mươi năm dưới nắng trời của xứ Ấn Độ. Thánh Gandhi dù bị hạ sát, nhưng ông chắc rất an vui trong sự nghiệp hy sinh cho đất nước của ông. Người Mỹ càng ngày càng tham gia vào các công tác xã hội từ thiện. Việc làm ấy đã làm cho cuộc sống của họ có ý nghĩa hơn. Năm 1993, chỉ trong một đêm quyên góp thôi mà tổ chức cứu giúp các em bé tật nguyền ở Mỹ đã quyên hơn năm trăm triệu Mỹ kim. Muốn buông xả lòng ích kỷ, bạn cần phải tập sống đời hy sinh và thương yêu.
c. Buông xả sự nóng giận: Nóng giận là điều mà con người ai cũng đầy ắp cả. Cả nhà tâm lý học xã hội học Mead và phân tâm học Freud nghĩ rằng sự nóng giận của con người là do học lấy từ hoàn cảnh chung quanh mà phát triển. Điều ấy không hoàn toàn đúng lắm. Vì một đứa bé sinh ra vài ngày, chúng ta vẫn thấy nó có dấu hiệu nóng giận rồi. Sự nóng giận đã theo ta từ nhiều đời nhiều kiếp, chứ không phải mới ngày hôm nay. Nóng giận đã làm sụp đổ đến sự liên hệ giữa các quốc gia, tổ chức, bạn bè, gia đình và ngay cả trong tình yêu nữa. Bạn có nhiều nóng giận tức bạn gây nhiều oán thù và chắc chắn bạn sẽ có nhiều khổ đau. Sự nóng giận của cựu Tổng Thống Bush trước thân nhân của những chiến binh mất tích tại Việt Nam đã làm giảm thiện cảm rất nhiều quần chúng Mỹ đối với ông. Sự nóng giận khởi lên thì bạn khó có thể kiềm chế được những lời nói hòa nhã và bạo hành thường xảy ra.
Mỗi khi bạn biết mình sắp nóng giận bạn lập đi lập lại câu "tôi đang nóng giận" và bạn hít thật sâu vào trước khi thở ra. Và đó là một trong những cách bạn thực tập buông xả nóng giận trong lúc nóng giận. Bạn vẫn có thể thực tập nó trong những lúc mình không nóng giận. Như khi dùng bữa ăn chiều không vừa ý, bạn hỏi lòng bạn có bực dọc nhiều lắm không. Khi người yêu của bạn trễ hẹn vào chiều thứ sáu cuối tuần, trong lúc đang chờ đợi, bạn tập hỏi tôi có giận nhiều không. Mỗi sự lập lại như vậy của bạn là giúp bạn khả năng quán sát và kiểm soát tâm mình. Nó sẽ tạo một năng lực làm suy yếu sự bộc phát của nóng giận một khi bạn gặp việc. Khả năng rủ bỏ sự nóng giận, không mang lại một hạnh phúc và thanh cao tuyệt vời trong đời sống bạn lắm sao.
d. Buông xả sự kiêu ngạo: Sự kiêu ngạo sẽ làm cho mọi người ghét bạn và xa lánh bạn. Nó không giúp ích một chút nào trong đời sống an lạc và hạnh phúc của bạn. Decarte bảo rằng, trong một phiên họp có nhiều thành phần trí thức khác nhau và mỗi người phát biểu mỗi kiểu, không có nghĩa là người này hơn người kia mà là mỗi người hướng dẫn một ý thức khác nhau. Trong cộng đồng xã hội, mỗi người có một trách nhiệm và đóng góp riêng cho sự tồn vinh của nó. Ý nghĩ độc tôn là một ý nghĩ rất ngây thơ và khờ khạo. "Tôi gặp bất cứ người nào họ cũng hơn tôi mặt này hay mặt khác" đây là một câu nói đầy từ ái của danh nhân phương tây mà bạn cần phải suy gẫm. Một nhà tu khó có thể xuất sắc về chính trị và ngược lại nhà chính trị đâu thể nào am tường một đời sống nội tâm và triết lý tôn giáo. Ai hơn ai. Sự kiêu ngạo phát xuất từ sự miệt thị người khác. Đời người thì ngắn ngủi, kiến thức chúng ta thật là hạn chế, tài năng cũng chỉ rất giới hạn trong một lãnh vực nào đó thôi. Chúng ta rất dốt nhiều thứ. Vậy thì có đáng kiêu ngạo để gây thương đau cho chính ta và những người chung quanh ta.
2. Buông xả phiền muộn từ người khác mang đến: Trên kia là bạn học buông xả những điều bất an do chính bạn gây ra. Không chỉ vậy, bạn cũng cần sự buông xả những phiền muộn từ người khác mang đến cho bạn. Nếu bạn đã tập tha thứ cho chính mình thì bạn cũng dễ dàng tha thứ cho người khác. Điều này không khó lắm đâu. Người khác mang đến cho bạn phiền muộn, nếu bạn khôn ngoan, bạn không nắm lấy nó lâu và nó sẽ đi qua rất lẹ. Ngược lại, sự bất an và phiền muộn càng lúc càng gia tăng thêm. Một kẻ không nhà lang thang trên đường phố bỗng dưng mắng nhiếc bạn vào một sáng thứ bảy trong shopping. Bạn căm hờn ông ta. Bạn tìm cách trả thù. Nếu bạn không bận tâm lời của một kẻ khốn mạt như thế thì bạn thấy lòng mình thư thái hơn. Trong đời sống gia đình, giữa cha mẹ, anh chị em, bạn thường gặp nhiều xung đột phiền toái. Bạn cứ giữ mãi trong lòng từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động mà người khác làm phật lòng bạn. Thân bạn nhỏ quá mà bạn muốn vác nhiều hòn đá phiền muộn như vậy thì làm sao bạn có thể sống được. Hơn nữa, bạn thấy chung quanh bạn toàn là kẻ thù không thôi mặc dù họ là những người rất thân yêu bạn. Điều ấy làm tiêu hủy một hoàn cảnh đẹp và thiêng liêng nhất trong đời bạn. Đức Phật khuyên bạn, mọi phiền muộn người khác mang đến bạn, như họ mang đến cho bạn một món quà, nếu bạn không nhận lấy thì gói quà ấy ắt về họ. Hãy trả lại mọi bất an cho những ai đã mang đến bạn. Lòng bạn sẽ trong vắt và thơ mộng như bầu trời xanh.
Tóm lại, bạn đang ao ước có được một đời sống thật an lạc và hạnh phúc. Bạn đang nỗ lực ở trường và ở sở. Bạn đang tập tha thứ chính mình. Bạn đang mở lòng để chia xẻ sự sống với những người chung quanh. Bạn buông xả mọi chuyện không vừa lòng mà người khác mang lại cho bạn. Bạn đang thật sự có an lạc và hạnh phúc
Thiền định nhiều làm tăng chất xám
Theo LiveScience, Tia Sáng

Các nhà khoa học cho biết việc thiền định sẽ giúp não hoạt động tốt hơn. Thiền vừa làm cho các bán cầu não hoạt động thường trực hơn, vừa khiến một số khu vực quan trọng ở não dày thêm.
Hình ảnh chụp não ở những người thiền định thường xuyên cho thấy khu vực vỏ não liên quan đến cảm nhận, nghe và nhìn cũng như các cảm nhận nội tâm hoạt động tốt hơn nhiều. Ngoài ra, việc thực hành thiền đều đặn sẽ ngăn chặn sự già đi của phần vỏ não phía trước.
"Điều thú vị nhất là thiền có thể làm tăng chất xám của bất kỳ ai", Jeremy Gray, thành viên nhóm nghiên cứu tại Đại học Yale (Mỹ), cho biết. "Những người tham gia nghiên cứu có công việc và gia đình. Họ chỉ thiền 40 phút mỗi ngày. Không nhất thiết cứ phải là vị sư mới có thể làm điều đó".
THÔNG ÐIỆP TÌNH THƯƠNG CỦA ÐỨC PHẬT
Nguyên tác: Dr. Rajendra Prasad
Chuyển ngữ: Hoà Thượng Thích Trí Chơn

Giới thiệu tác giả: Dr. Rajendra prasad (1884-1963), là một học giả và chính trị gia Ấn Ðố nổi tiếng. Tiến sĩ Prasad đã tham gia rất sớm phong trào tranh đấu chống thực dân Anh để giành độc lập tự do cho xứ sở. Sau ngày Anh quốc trao trả độc lập cho Ấn Ðộ vào năm 1947, hai lần ông được bầu làm chủ tịch Quốc Hội. Năm 1947-1949, ông giữ chức Chủ Tịch Hội Ðồng Lập Hiến, và được bầu làm Tổng Thống Ấn Ðộ đầu tiên từ năm 1952-1962. Ông mất năm 1963 . (Chú thích của dịch giả - HT Thích Trí Chơn)

Trải qua hơn 25 thế kỷ, giáo lý đức Phật và bức thông điệp của Ngài lưu truyền cho nhân loại vẫn còn vững chắc tồn tại với thời gian. Trong những sự nghiệp vĩ đại được xem như vĩnh cửu và bất biến, ta phải kể trước nhất là giáo pháp của đức Phật. Bức thông điệp hòa bình và từ bi của Ngài hiện nay vẫn còn sức thu hút chúng ta, mặc dù thế giới đã trải qua nhiêu thế kỷ biến đổi xã hội và lịch sử. Giáo pháp của đức Phật bao hàm những triết thuyết mà chúng đã bồi đắp khá nhiều cho nền tư tưởng hiện đại. Ðức Phật là một nhà trí tuệ, và chân lý được Ngài xem như điều tối thượng, đúng như người ta đã gọi Phật Giáo là tôn giáo của lý trí.
Ngài dạy mọi người hãy tự thanh tịnh hóa bản thân trong ánh sáng trí tuệ của chính mình. Ðể đạt mục đích cao cả này, đức Phật đã dạy chúng ta Bát Chánh Ðạo, bao gồm tám nguyên tắc sống chân chính, được thể hiện qua năm giới cấm, đặc biệt là không sát sanh, không trộm cấp, không vọng ngữ, không tà hạnh và không uống rượu. Theo đức Phật, người nào giữ gìn không phạm năm giới điều vừa kể, và luôn hành động sáng suốt theo lý trí, họ có thể chứng quả Niết Bàn. Thật vậy, những phương pháp sống này có một giá trị quốc tế và không một xã hội văn minh tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới có thể đưa ra những lời chỉ trích hoặc phản đối lại chúng.
Ðặc điểm khác của giáo lý đức Phật là bất cứ điều gì Ngài dạy đều xuất phát từ kinh nghiệm bản than; và đã được Ngài chứng minh bằng hành động thực tế. Cho nên thực hành là đặc tính của Phật Giáo. Ðức Phật chỉ cho chúng ta con đường dẩn đến Niết bàn, nhưng cùng lúc Ngài dạy rằng, mỗi cá nhân phải cố gắng tu tập để đạt đến mục đích ấy. Nói khác, đức Phật chỉ là bậc Thầy hướng dẫn, và hành động đi theo hay không là tùy thuộc ở mỗi chúng ta.
Ngài cũng bảo rằng mọi người phải tự thắp lên ngọn đuốc của chính mình, và trong đêm trường dày đặc bóng tối, con người phải tìm lấy hướng đi với sự soi sáng của ngọn đèn lý trí. Ngũ giới và Bát Chánh Ðạo là phương tiện giúp con người tiến trên con đường ấy. Ðức Phật xem con người là tiêu điểm giáo lý của Ngài. Và lý trí chiếm một địa vị quan trọng, bởi đó là đặc tính căn bản phân biệt con người với những loài chúng sanh khác.
Với gương sáng tu tập của đức Phật Ngài đã trình bày những phương pháp để con người có thể đạt đến cảnh giới toàn thiện bằng cách hành động theo con đường từ bi và trí tuệ. Trong những lời Ngài dạy cho các Tỳ Kheo, không bao giờ Ngài tự nhận mình là nhân vật cao hơn người. Thật vậy, đức Phật đã tuyệt đối phủ nhận Ngài là nhân vật thần thánh cũng như là thiên sứ. Ðức Phật dạy chính nhờ ở năng lực thiền định, phát triển trí tuệ mà Ngài đã giác ngộ. Nói khác, là do ở ý chí kiên trì tu theo Bát Chánh Ðạo của Ngài vậy.
Nghiệp lực hay hành động cũng được xem như lý thuyết căn bản của Phật Giáo. Ðức Phật tin vào sự không thể tránh của nghiệp lực, cùng tính bất biến của luật nhân quả, nhưng Ngài cũng xác nhận rằng con người có thể hoàn toàn tự do để làm lành và tránh ác, nhờ hành động theo lý trí và Bát Chánh Ðạo. Theo đức Phật, cuộc sống không chỉ bắt đầu bằng sự sanh và kết thúc bởi sự chết. Mà mọi chúng sanh đều phải trải qua vô lượng kiếp sống, và dòng sinh tử luân hồi này chỉ chấm dứt khi nào chúng ta đã hoàn toàn giác ngộ.
Hành động thiện ác, xấu tốt luôn luôn là vấn đề quan tâm của nhân loại. Con người cần biết điều xấu để tránh, cũng như điều tốt để theo. Sau khi trình bày giáo lý Bát Chánh Ðạo, đức Phật đã khuyên nhân loại nên thực hành theo chúng, với mục đích đạt đến giác ngộ và giải thoát, chứ không phải mong được sanh lên các cõi trời sung sướng sau khi chết. Nếu đức Phật dạy rằng cuộc sống là khổ đau, thì cùng lúc Ngài cũng chỉ bày cho chúng ta phương pháp diệt trừ sự đau khổ đó. Một cách tổng quát, chúng ta thấy rằng giáo lý đức Phật bao gồm những đức tính căn bản như từ bi, hỷ xả, bất bạo động và hoà bình.
Tôi nghĩ, chính nhờ những nguyên tắc xử thế tốt đẹp này mà Phật Giáo xưa kia, đã từng được bành trướng mạnh mẽ và nhiều quốc gia ham chuộng. Vô số người nam nữ đã tìm thấy sự an lạc và hạnh phúc chân thật nhờ biết hành động theo Phật Giáo. Những lời dạy và phương pháp sống theo Phật Giáo này, đã ảnh hưởng rất nhiều đến nền tư tưởng Ấn Ðộ. Ngày nay, chúng ta thấy các truyền thống tập quán đó đã góp phần to lớn vào gia tài văn hóa của đất nước chúng ta.
Lịch sử Ấn Ðộ đã lưu lại qua giáo lý đức Phật nhiều công trình vĩ đại trong mọi lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, triết học, văn chương và tổ chức xã hội. Lý tưởng của Ngài đã giúp cho dân tộc quốc gia này thực hiện được nhiều nỗ lực xây dựng lớn lao. Biết bao nhiêu kinh điển Phật Giáo chép bằng cổ ngữ Pali và Sanskrit (Phạn) tồn tại đến ngày nay thực sự đã góp một phần lớn vào gia tài văn hóa của chúng ta. Không những thế, kho tàng kinh điển này cũng đã tô bồi phong phú cho sự phát triển văn hóa của nhiều quốc gia Á Châu khác. Lịch sử chúng ta đã từng trải qua một thời đại hoàng kim với sự xuất hiện của nhiều trường đại học danh tiếng như Takshashila (1) Vikramasila (2) Nalanda (3) v.v…..được xem như là trung tâm nghiên cứu nền triết học và văn chương Á Châu.
Những quốc gia như Trung Hoa, Ðại Hàn, Tây Tạng, Hồi Quốc, Mông Cổ, Mã Lai, Nam Dương, Miến Ðiện xưa kia đều có liên hệ tinh thần chặt chẽ với các Ðại Học trên. Hiện nay, tại các quốc gia này đang còn lưu lại hàng nghìn pho kinh điển Phật Giáo chép bằng quốc ngữ của họ, trong khi tại Ấn Ðộ những bản kinh chính đó lại không còn. Suốt trong tám thế kỷ từ thời đại vua A Dục (4) đến triều đại Guptas (5) Phật Giáo đã trở nên nguồn sáng tạo chính yếu cho mọi ngành mỹ thuật của chúng ta.
Nghệ thuật Phật Giáo cũng đã gây ảnh hưởng sâu xa cho nhiều khuynh hướng nghệ thuật và văn hóa tại các quốc gia Á Châu như A Phú Hản, Ðông Á, Trung Á, Trung Hoa và Tích Lan v. v…..Ngày nay, sự phát triển nghệ thuật của Ấn Ðộ đang còn chịu ảnh hưởng nhiểu bởi nghệ thuật Ajanta (6) của Phật Giáo. Giáo pháp của đức Phật, những trào lưu tư tưởng phát triển bởi Phật Giáo trong mọi lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, văn chương, theo thời gian qua, đã chiếm một phần lớn trong đời sống, tập quán và văn hóa của Ấn Ðộ. Không riêng Ấn Ðộ mà toàn thế giới ngày nay đang khẩn thiết cần đến bức thông điệp hòa bình, tiến bộ và xây dựng của đức Phật.
Lòng tham theo đức Phật dạy là nguyên nhân chính của mọi khổ đau. Ngài tin rằng một khi con người biết xã bỏ tất cả những dục vọng, lúc ấy sự khổ tự nhiên sẽ chấm dứt. Ðời sống và lòng từ bi xót thương mọi chúng sanh của đức Phật sẽ vĩnh cửu tồn tại như một lý tưởng siêu việt trên thế giới. Ngài dạy rằng bạo tàn không bao giờ có thể chấm dứt bằng tàn bạo, mà chỉ có tình thương và sự thông cảm, hiểu biết mới có thể tiêu diệt được nó. A Dục Vương là người đã biện minh hùng hồn cho sự thật của lý thuyết này. Bởi cảm nhận sâu xa mọi nỗi khổ đau do nhà vua gây ra trong trận chiến Kalinga (7) mà Ngài đã cố gắng thực hiện ý nghĩa của chân lý trên. Không những vua A Dục đã áp dụng nó trong đời sống cá nhân, mà ngài còn lấy lý tưởng đó làm nền tảng cho đường lối chung của quốc gia đương thời. Nhà vua đã vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh, và đã tìm thấy một cuộc chiến thắng thực sự.
Cuộc chiến tranh của chúng ta ngày nay còn khủng khiếp và tàn phá gấp ngàn lần hơn cuộc chiến Kalinga của vua A Dục thời xưa. Hiện nay con người đang đứng ở ngã tư đường lịch sử. Bằng vào những khám phá và phát minh khoa học, con người tự hào nói rằng trong mọi lãnh vực nó thể vượt qua những giới hạn của thiên nhiên. Con người đã đạt được nhiều tiện nghi vật chất, nhưng trớ trêu là cùng lúc, cũng chính những khả năng đó, đã khiến con người tiến gần đến sự hũy diệt hoàn toàn. Do đó mà ngày nay chúng ta thấy trên thế giới đã xảy ra không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh và xung đột.
Không thể dùng bạo lực để chấm dứt bạo lực cũng như không thể dập tắt đám cháy bằng cách đổ thêm dầu vào lửa. Chỉ khi nào con người biết thực hành theo những lời Phật dạy trên, chừng đó thế giới mới hết chiến tranh và nhân loại mới hưởng được hạnh phúc hòa bình. Chắc chắn chúng ta phải chấp nhận lý tưởng đó, mặc dù chúng ta không thể hoàn toàn hành động đúng theo nó trong hoàn cảnh hiện hữu của đất nước chúng ta. Với tất cả nhiệt thành, chúng ta phải cần sống theo những giới điều Phật dạy, lấy chúng làm châm ngôn chung cho chủ trương quốc gia và quốc tế chúng ta.
Ước vọng duy nhất của chúng ta là mong ngày ấy chóng đến để chúng ta có thể làm sống lại tinh thần đạo đức cao siêu mà vua A Dục xưa kia đã thể hiện sau trận chiến thắng Kalinga. Ðể chúng ta có thể tiếp nối được sự nghiệp vĩ đại ấy, tôi nghĩ bổn phận của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới ngày nay là cần phải chấp nhận lý tưởng đó để làm nền tảng cho chủ trương quốc gia của họ.
Tôi thiết tha hy vọng và nguyện cầu cho những cố gắng của mọi quốc gia trong việc tán đồng chương trình hủy diệt khí cụ chiến tranh sẽ có kết quả thực sự. Ðến lúc ấy, chúng ta có thể nói rằng thế giới không thể nào không chú ý đến bức thông điệp của đức Phật và lý tưởng của vua A Dục mà hiện thời chúng ta đang nỗ lực theo đuổi là tuyệt đối không dùng bạo lực. Mặc dù ngày nay lý tưởng này xem khó bề thực hiện, nhưng tôi tin chắc rằng ngày đó có thể đến, khi mà sự tận diệt đe dọa bởi chiến tranh buộc nhân loại sẽ phải chấp nhận lý tưởng ấy. Trong thời đại nguyên tử này, con người phải quyết định dứt khoát rằng nó sẽ chiến đấu với bạo lực bằng bạo lực hoặc bằng tình thương.
Ðã có một tia sáng hy vọng hiện rõ ở chân trời. Nhiều quốc gia đang hướng về thực hành theo ngũ giới của đức Phật, và một vài dân tộc đã hoàn toàn chấp nhận những lời răn dạy ấy. Nhiều lãnh tụ có uy quyền, mặc dù hiện nay họ chưa dự trù việc hũy diệt toàn bộ các dụng cụ chiến tranh, nhưng ít ra, họ cũng đã nghĩ đến vấn đề hạn chế bớt việc sản xuất những khí giới giết người ấy. Phải chăng một ngày mai huy hoàng sẽ hiện đến khi mà các lãnh tụ trên thực hiện được lý tưởng này, để mọi quốc gia có dịp sử dụng năng lực và tài nguyên của họ, không phải cho mục đích chiến tranh phá hoại, mà vì lợi ích của hạnh phúc và hòa bình.
(Trích dịch tạp chí The Maha Bodhi,Vol. 64. No. 7, ấn hành tại Ấn Ðộ).

Chú thích của dịch giả:
(1) Takshashila hay Taxila; ngày nay thuộc thị trấn Rawalpindi ở Hồi Quốc (Pakistan). Xưa kia, Taxila là thủ đô xứ Gandhara (Càng Đà La), một trong 16 tiểu quốc của miền bắc Ấn Ðộ thời cổ (năm 600 trước Tây Lịch). Vào lúc đó, đại học Taxila (Takshashila) là một trung tâm giáo dục nổi tiếng khắp Ấn Ðộ, nơi mọi người từ vua quan đến dân thường, ước mong được đến học. Hầu hết các nhà học giả của Ấn Ðộ thưở xưa đều xuất thân từ đại học này; trong đó có cả vua Prasenajit (Ba Tư Nặc), nước Kosala ( Kiều Tát La), đồng thời với đức Phật ; và hoàng tử Jivaka, con vua Bimbisara (Tần Bà Xa La): 546- 494 trước T.L.
Theo hai giáo sư sử học Ấn Ðộ, V.D. Mahajan và M.L.Bhagi, thì khó xác định rõ thời kỳ nào đại học Taxila được xây cất, chỉ biết trong thời hậu đại Phệ Ðà (Later Vedic Period), khoảng năm 1200-600 trước T.L (theo vài học giả khác: 900-600 trước T.L), là giai đoạn huy hoàng lừng danh nhứt của đại học này. Và trường đã bị tàn phá hoàn toàn trước khi Ngài Pháp Hiển (Fa-Hien), danh tăng Trung Hoa, đến viếng nơi này vào thế kỷ thế thứ 5 sau Tây Lịch.
Chương trình giáo dục tại đại học Taxila, vào lúc ấy, gồm nhiều môn học, đặc biệt nổi tiếng về y học, luật học, võ thuật v.v…Trường không tổ chức theo hệ thống đại học như bây giờ, không có những giảng đường hay phòng học to lớn. Mỗi giáo sư vào lúc dạy, chỉ nhận hướng dẫn độ 20 sinh viên. Ngoại trừ các học sinh con nhà giàu, còn hầu hết những sinh viên nghèo, không có tiền trả học phí cho thầy thì họ chỉ học về đêm, ban ngày phải lo làm việc để hầu hạ các giáo sư. Về quỷ tài trợ, trường nhận sự giúp đỡ của nhiều nhà hảo tâm và giàu có đương thời.
(2) Vikramasila: Ngày nay ở thành phố Patharghata, trong quận Bhagalpur, tiểu bang Bihar, miền đông Ấn Ðộ, là một trong những đại học Phật Giáo danh tiếng thời xưa ; do vua Phật tử Dharmapala (770-810) triều đại PaLa (750-1150) kiến lập. Ðại học gồm có khoảng 108 ngôi chùa và sáu học viện với sáu cổng trường to lớn. Nơi mỗi cổng ra vào được canh gác bởi một nhân viên của trường gọi là “học giả gác cổng” (Gatekeeper Scholar). Theo sử sách Tây Tạng, viện trưởng của trường vào những năm 1034-1038 là Ngài Dipankara Srijnana ( 980- 1053), một học giả trứ danh người Ấn, được vua Tây Tạng mời sang thăm để hướng dẫn phong trào phục hưng Phật Giáo và về sau Ngài đã xây dựng Phật Giáo thành quốc giáo tại sứ này.
Trường có 53 phòng dành làm nơi tu học Mật Giáo và 54 phòng cho chư Tăng sử dụng công cộng. Ngoài giáo pháp Mật Tông là bộ môn đại học này đặc biệt giảng truyền, trường còn dạy các môn khác như văn pháp (grammar), triết học, luận lý học v.v…. Cấp bằng cao nhất trường cấp phát bấy giờ là văn bằng Pandita (học giả), tương đương với Cao học (Master of Arts) ngày nay. Phần lớn các học giả Tây Tạng thời đó, đã sống và tu học tại đại học này. Ngoài việc nghiên cứu kinh tạng Bát Nhã và Mật Giáo, trường còn giúp họ trong việc phiên dịch nhiều kinh sách Phật Giáo Phạn ngữ (Sanskrit) ra tiếng Tây Tạng.
(3) Nalanda: Một thị trấn danh tiếng của vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha) thời xưa ở Ấn Ðộ, nơi đức Phật thường lui tới khi Ngài còn tại thế ở thành Vương Xá (Rajagriha). Nalanda ngày nay thuộc quận Patna, tiểu bang Bihar, miền đông Ấn Ðộ. Vào thế kỷ thứ 02 sau tây lịch, Nalanda là một trung tâm học vấn Phật Giáo, và từ thế kỷ thứ 05 đến thế kỷ 11 Nalanda trở thành một đại học Phật Giáo nổi tiếng khắp Ấn Ðộ. Ngài Huyền Trang (Hiuen Tsang), danh tăng Trung Hoa, trong thời gian đến Ấn Độ từ năm 630- 643, đã ở nghiên cứu, tu học tại đây hơn 5 năm. Ngài cho biết lúc đó, trường có khoảng 1,500 giáo sư, và số sinh viên theo học lên tới 10,000 người.
(4) Asoka (A Dục Vương): Một vị vua Phật tử nhiệt thành, có công đức “hộ pháp” nhiều nhất đối với nhân loại, trong việc phát huy, bảo vệ chánh pháp của đức Phật. A Dục đại đế là cháu nội vua Chandragupta (trị vì: 322-298 trước T.L.), người sáng lập nên triều đại Maurya vào những năm (322-184 trước T.L.) ở Ấn Ðộ. A Dục là con vua Bindusara và hoàng hậu Subhadrangi, trị vì vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha) vào những năm 298-273 trước T.L, với kinh đô đóng tại Pataliputra (Hoa Thị Thành), nay là thị trấn Patna, thuộc tiểu bang Bihar miền đông Ấn Ðộ. Sử chép rằng, vua Bindusara lấy 16 vợ và có đến 101 người con; trong đó Sumana là con đầu, Asoka (A Dục) thứ hai, và Tishya là con út. Sau khi nghe tin vua cha băng hà, A Dục bấy giờ đang cai trị tiểu quốc Avanti (miền bắc Ấn Ðộ), cấp tốc kéo quân về vây hảm kinh thành Pataliputra, giết 99 người anh của mình, trong đó có hoàng tử Sumana là người mà vua cha Bindusara định truyền ngôi cho.
Bấy giờ, A Dục Vương nổi danh như một hung thần bạo chúa, cai trị muôn dân bằng sắt máu. Ông dùng vũ lực xua quân đi xâm lăng các tiểu quốc lân bang để mở mang bờ cỏi. Quân của nhà vua đi tới đâu, cảnh lương dân bị chém giết, đầy ải; nhà cửa bị đốt cháy xảy ra đến đó. Sau này, nhờ sự hướng dẫn của Ðại Đức Nigrodha, nhất là sau trận chiến Kalinga, vua A Dục đã ăn năn sám hối, từ bỏ con đường xâm lược chiến tranh. Từ đó, nhà vua quyết tâm theo đuổi con đường tích cực ủng hộ, truyền bá giáo pháp của đức Phật; không những trong nước Ấn Ðộ, và các quốc gia Á Châu, mà con lan rộng cả đến Ấu và Phi Châu. Vua A Dục lên ngôi lúc Ngài 30 tuổi, và mất năm 71 tuổi: 273-232 trước T.L.
(5) Guptas: Triều đại Guptas, do vua Chandra Gupta I sáng lập, trị vì Ấn Ðộ hơn hai thế kỷ, khoảng từ năm 320 đến 550. Dưới triều đại này, nghệ thuật Phật Giáo, đặc biệt ngành tạc tượng Phật trên đá, đã tiến đến một trình độ rất cao. Nhiều chùa, tháp Phật Giáo, tượng Phật bằng đá với nét điêu khắc, chạm trổ tinh vi nổi tiếng, còn lưu lại đến ngày nay khắp Ấn Ðộ đều được xây cất, làm ra dưới triều đại Guptas này.
(6 Ajanta): Tên một ngọn đồi hình móng ngựa (horseshoe form), ở gần làng Fardapur, trong quận Aurangabad, thuộc tiểu bang Maharashtra, miền tây Ấn Ðộ. Trên sườn ngọn đồi này, trong khoảng từ thế kỷ thứ 02 trước T.L đến thế kỷ thứ 07 sau T.L, những người Ấn thời xưa đã đục trong đá thành những cái hang (caves) tạo nên các ngôi chùa Phật Giáo với nghệ thuật kiến trúc, chạm trổ rất đẹp. Trong các chùa hang đá này, những họa sĩ Phật tử vô danh Ấn Ðộ thời cổ đã sáng tác nên những bích họa (tranh vẽ trên tường), rút đề tài ở lịch sử đức Phật, có tất cả là 29 hang. Những hang này do một nhóm người Âu Châu đi săn tình cờ khám phá ra vào năm 1829, và hiện nay vẫn còn, và là một trung tâm du lịch nổi tiếng tại Ấn Ðộ.
(7) Kalinga: Một tiểu quốc và bộ tộc ở vùng biển vịnh Bengal (Bay of Benga) vào thời vua A Dục (273- 232 trước T.L). Ngày nay, Kalinga thuộc làng Dhauli, trong quận Puri, tiểu bang Orissa, miền đông Ấn Ðộ. Sử chép rằng, sau cuộc chiến xâm lăng Kalinga, với 100,000 người chết, và 150,000 tù binh bị bắt đầy ải, vua A Dục (Asoka) nhất tâm quy y Tam Bảo, ngày đêm sám hối những tội ác của mình đã gây ra cho dân tộc Kalinga; và phát nguyện đem hết năng lực còn lại của đời mình để phụng sự Phật Giáo và nhân loại.
Ý Nghĩa
Ba Cái Lạy Của Phật Giáo
TÂM DIỆU

Lạy hay còn gọi là Lễ Bái, là nghi thức rất phổ thông trong dân gian, mang ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn và niềm tôn kính đến với các đấng thần linh, các bậc tiên hiền có công khai phá giang sơn, bảo vệ sơn hà xã tắc, và tổ tiên dòng họ tiếp nối. Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hoá Trung Hoa, nên việc lễ lạy, từ hình thức đến nội dung, từ lễ tổ tiên ông bà ở nhà cho đến lễ lạy Trời, Phật, Thánh, Thần ở đình, chùa, lăng, miếu cũng đều bị ảnh hưởng theo.
Hầu hết các tôn giáo đều có lễ lạy nhưng với nghi thức và ý nghĩa khác nhau. Với Phật Giáo, ý nghĩa và cách thức lễ lạy khác với các đạo giáo khác. Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ. Tại xứ này ngày xưa, dân chúng thường bày tỏ lòng tôn kính chân thành đến một người nào đó họ ngưỡng mộ kính mến bằng cách quỳ xuống sát đất, đặt trán mình lên chân của vị ấy. Đức Phật là vị Đạo Sư, là bậc giác ngộ được tôn kính đặc biệt tại xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Lúc đức Phật còn tại thế, mỗi lần nghe pháp hay thưa thỉnh việc gì, chư Tăng thường chắp tay lạy ba lạy rồi thưa hỏi hay ngồi nghe pháp. Đức Phật mặc nhiên chấp nhận cung cách này như là một tục lệ có từ lâu đời của xã hội Ấn Độ. Tuy vậy Ngài cũng không đặt thành nghi thức lễ lạy mà để tùy tâm các đệ tử. Sau khi Phật Niết Bàn, hình thức lễ nghi và sự tôn kính ấy vẫn được duy trì trong các hàng đệ tử của Ngài. Sự duy trì hình thức ấy với mục đích là luôn luôn xem đức Phật như còn tại thế. Chư Tăng mỗi khi tụng kinh ôn lại lời Ngài dạy, phải mặc áo cà sa tức áo mầu hoại sắc trang nghiêm, lạy Phật ba lạy. Hàng đệ tử tại gia cũng theo quý chư Tăng lạy Phật như thế.
Tại sao lại lạy ba lạy mà không lạy hai lạy, bốn lạy hay năm lạy? Ba lạy chính là lễ lạy ba ngôi quý báu tức Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Người đời thường xem vàng, bạc, kim cương, hột xoàn, dollars, và danh lợi thế gian là quý báu. Nhưng thực tế cho biết những thứ này không đem lại hạnh phúc chơn thực, không cứu được con người thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Nhưng với ba ngôi quý báu Tam Bảo: Phật, Pháp, và Tăng có năng lực dẫn dắt con người thoát khỏi mọi phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi.
Phật là Giác, là thức tỉnh ra khỏi giấc ngủ mê. Đức Phật là người đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Ngài là một bậc đạo sư, một người chỉ lối dẫn đường cho mọi chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy đầu tiên là để tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ và nhớ ơn Phật, cùng là thề nguyện sẽ theo gương Ngài mà tu hành để về bến giác. Pháp là những lời Phật dạy các đệ tử, sau đó được ghi bằng chữ, gọi là Kinh và Luật. Còn Luận là những lời bàn luận của các vị Bồ tát, đệ tử của Phật để làm sáng tỏ thêm những lời Phật dạy. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy thứ hai là lạy Pháp bảo nhằm bày tỏ lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến những lời dạy của Phật, những lời dạy mà, nếu chúng ta thực hành sẽ có công năng đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bến bờ giải thoát. Tăng là một đoàn thể sống chung với nhau ít nhất là bốn người, bỏ nhà xuất gia đi tu, giữ đầy đủ giới luật của Phật đặt ra, với mục đích tu hành giải thoát cho mình và cho tất cả chúng sinh. Vì thế cái lạy thứ ba là lạy Tăng Bảo, từ các vị Thánh Tăng xuất thế đến các vị Tỳ Kheo trụ thế tu hành chân chính, đạo đức trong sạch, và giới luật trang nghiêm, để tỏ lòng thành kính và biết ơn những vị này đã sống đời sống lý tưởng, đã hy sinh gia đình tiền của và danh vọng, đã xem tiền bạc châu báu như rắn độc, danh lợi như đôi dép rách, sắc đẹp như cạm bẫy, ăn ngon mặc đẹp như xiềng xích trói buộc, để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sinh trên đường đạo.
Ngoài ý nghĩa lễ lạy Phật, Pháp và Tăng nêu trên, ba cái lạy cũng còn mang ý nghĩa lễ lạy ba ngôi qúy báu bên trong chúng ta và trong mỗi chúng sinh, vì chúng sinh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt (Phật tánh), đồng một pháp tánh từ bi và bình đẳng (Pháp tánh), và đồng một đức tánh thanh tịnh, hòa hợp (Thanh tịnh tánh).
Về cung cách lạy cũng có nhiều thứ. Người Ấn Độ cũng như Trung Hoa có nhiều cách lễ lạy khác nhau. Riêng Phật giáo Việt Nam thường lạy theo phương cách "Ngũ thể đầu địa", tức là làm thế nào cho hai tay, hai chân và cái đầu đụng mặt đất. Đây là một phương cách lạy tôn kính nhất trong tất cả các cung cách lễ lạy. Khi lễ lạy, người Phật tử đứng ngay thẳng, hai chân khép sát vào nhau, hai bàn tay chắp sát lại nhau cho khít theo thế hiệp chưởng (không phải thế hình búp sen) tiêu biểu cho sự nhất tâm. Khi lạy Phật có người để hai tay trước ngực lạy xuống. Cũng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống theo phương cách ngũ thể đầu địa, tức là khi lạy phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng xuống đặt trán mình lên trên hai lòng bàn tay. Đối với phụ nữ, thường là quì thẳng lưng rồi lạy, chứ không đứng, vì hình thể đặc biệt của phụ nữ, khác với nam giới nên thế đứng thẳng trông hơi lộ liễu.
Trong đạo Phật bao giờ sự và lý cũng phải viên dung. Về sự thì như trên chúng tôi đã trình bày. Chúng ta lạy Tam Bảo với tất cả thân tâm thành kính nhớ ơn, thành kính nhớ ơn Phật, thành kính nhớ ơn Pháp, và thành kính nhớ ơn Tăng. Thế còn cái tâm của chúng ta trong khi lạy phải như thế nào? Nghĩ ngợi gì? Tưởng nhớ đến ai, đến cảnh gì, vật gì? Hay là để tâm không nghĩ ngợi, không cầu mong điều gì? Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng chúng ta hãy nhớ lại bài kệ "Quán Tưởng" mà chúng ta thường tụng trước khi đảnh lễ:
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Đế Châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.
Đã được dịch ra là:
Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng,
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời,
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thề nguyện quy y.
Như thế thì bản chất Phật và chúng sinh vốn là "không tịch" lặng lẽ, tạm gọi là chân tâm. Chỉ từ khi bắt đầu khởi niệm, là bắt đầu bị cuốn vào dòng vô minh, rồi thức mới hoạt động, mới suy nghĩ, mới phân biệt ra cái "ta" (năng) và cái "không phải ta" (sở), mới nảy sinh ra tình cảm yêu ghét, tạo nghiệp, trả quả, xoay chuyển trong vòng sinh tử không thấy đường ra.
Phật thương xót chúng sinh mê muội "... trong trí bồ đề mà không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc..." (Lời sám hối), mới dậy cho chúng sinh tu hành để chấm dứt cái vòng luẩn quẩn đó bằng cách trì giới, tham thiền, niệm Phật, trì chú, mục tiêu đều để giảm bớt sự hoành hành của con vượn tâm, con ngựa ý, giảm bớt những thói quen chấp trước, phân biệt, yêu ghét, từ từ đi tới định tâm. Khi tâm đã "định" thì trí huệ bát nhã mới có dịp hiển lộ, mới được hưởng mùi vị cam lồ của Phật Pháp. Đó là điểm đặc biệt của đạo Phật. Nếu chỉ dậy con người ăn hiền ở lành thì nhiều tôn giáo khác đã làm, đức Phật thị hiện ra đời là dư, không có gì đặc biệt đáng được tôn là Đấng Đại Giác. Chính là vì Ngài đã "nhận" được cái tánh "không tịch" và tự mình dẫn đường cho chúng sinh trong suốt 49 năm, còn để lại kinh sách làm bản đồ cho đời sau nương theo tu tập mà trở lại được cái tánh "không tịch" ấy.
Kẻ nội thù dìm ta trong dòng vô minh chính là cái tâm sinh diệt suy nghĩ liên miên này. Cho nên nếu muốn báo đền ơn Phật, vâng lời Phật thì ít nhất là trong khi lễ lạy phải tuân theo lời Phật dạy, không suy nghĩ gì cả, chỉ theo dõi hành động mà thôi, lễ xuống thì chỉ biết là lễ xuống, đứng lên thì chỉ biết là đứng lên, chắp tay thì chỉ biết là chắp tay, v..v... không có nghĩ đến bất cứ ai, không tưởng nhớ đến bất cứ cái gì. Hễ một niệm tưởng dấy lên là ô nhiễm rồi, là hết "không tịch" rồi, là từ "nhất niệm vô minh" trôi lăn vào dòng vô minh miên viễn rồi.
Nói tóm lại, "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch", nghĩa là người lạy và đấng mình lạy, thể tánh đều vắng lặng bình đẳng. Thật tướng vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng, không phân biệt, không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Nếu khi lạy mà tâm còn vướng mắc một chút xíu mong cầu, hay một chút tơ tưởng đến dòng họ tổ tiên, dù mỏng như một sợi tơ cũng không đúng phép. Tâm phải ở trạng thái thanh tịnh vắng lặng. Phật giáo Việt Nam đã thực hiện phép lý lạy này từ ngàn xưa, thiết tưởng không có phép nào đầy đủ ý nghĩa và hợp với lý Bát Nhã hơn.

TÂM DIỆU
THIỀN PHẬT GIÁO
NGUYÊN LÝ VÀ MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN
TS. Hoàng Thị Thơ

Xuất phát từ quan niệm, thế giới hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể, là vô thường nên lý tính nhận thức về thế giới này chỉ đạt tới chân lý tương đối, Thiền Phật giáo cho rằng, cái cần được nhận thức là cái thực tại tuyệt đối đứng đằng sau thế giới hiện tượng, là cái tuyệt đối phổ quát và chỉ có thể tạm biểu đạt bằng khái niệm Không hay Chân như...
Trên cơ sở đó, Thiền Phật giáo triển khai các phạm trù về nhận thức và giải thoát rất đặc thù. Theo Thiền Phật giáo, để nhận thức được bản chất đích thực của Không nhằm đạt tới chân lý tuyệt đối thì cần phải vượt qua nhận thức lý tính bằng trực giác, gọi là trí Bát nhã (Prajna Paramita). Phân tích quan niệm của Thiền Phật giáo về quá trình nhận thức, và cùng với nó là quá trình giải thoát, tác giả muốn chỉ ra thế mạnh cũng như hạn chế của những quá trình mang tính hướng nội và cá thể này. Cũng chính vì vậy, theo tác giả, có thể lý giải được sự lan toả đang rất thành công của Thiền Phật giáo trên thế giới hiện nay.
Thiền thực sự có vị thế trong triết học Phật giáo. Ngày nay, Phật giáo đang phát huy một số đặc trưng độc đáo để hội nhập và lan toả sang phương Tây một cách thành công, trong đó có sự góp phần của Thiền. Bài viết này cố gắng làm rõ một số đặc trưng của Thiền Phật giáo từ góc độ vấn đề cơ bản của triết học để góp phần nhận diện và phát huy cũng như bảo tồn những đặc sắc của tư duy phương Đông, cũng là của Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng.
"Thiền" là một khái niệm xuất hiện rất sớm, từ thời kỳ văn minh Veda của Ấn Độ cổ đại tới thời Đức Phật, Thiền trở thành khái niệm chuyên biệt chỉ phép tu đặc trưng riêng của Phật giáo. Trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo, khi phát triển những nguyên lý cơ bản của giáo lý trên tinh thần mới, Thiền luôn đóng vai trò lý luận. Đến Thiền tông, tư tưởng Thiền Phật giáo đã đạt tới tầm triết học với hệ nguyên lý, khái niệm và cấu trúc đặc trưng và độc lập. Điểm riêng biệt là Phật giáo không triển khai và phát triển hệ vấn đề như triết học phương Tây, và cũng không hoàn toàn giống các hệ triết học phương Đông khác. Song, những nguyên lý và khái niệm đặc trưng của Thiền Phật giáo thể hiện khá rõ nội dung triết học phổ quát của riêng nó, nổi trội nhất là nguyên lý "Không” và các phạm trù về nhận thức và giải thoát mà Thiền học đã triển khai thành công.


1. Nguyên lý "Không"
Tư tưởng Thiền Phật giáo thừa nhận nguyên lý có một thực tại tối hậu, bất biến đằng sau hiện tượng. Thực tại đó không thể nắm bắt hay nhận thức được bằng nhận thức thông thường nên tạm gọi là "Không” hoặc "Vô" hay nhiều tên gọi khác. Đây là một xuất phát điểm căn bản cho khuynh hướng nhận thức thoát ly khái niệm của cả hệ thống. Đây cũng là một trong những đặc trưng của lối nhận thức phương Đông nói chung và ở Ấn Độ nói riêng mà Phật giáo đã tiếp thu và Thiền học phát triển thành một điển hình. Nguyên lý Không phổ quát của Thiền Phật giáo là một khẳng định ở tầm chủ thuyết chứ không còn là một phủ định thông thường.
Thiền Phật giáo cho rằng, mọi hiện tượng không nằm ngoài quy luật nhân quả (duyên khởi) phổ quát, do đó chúng vận động, biến đổi không ngừng. Không có hiện tượng nào hoàn toàn độc lập và bất biến. Phật học đã tổng kết rằng, mọi hiện tượng đều trong vòng biến đổi sinh/thành - trụ - hoại/dị - diệt/không của sự vận động thái cực có - không. Từ đó, Thiền học tiếp tục khẳng định từ góc độ nhận thức luận rằng, hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể và được gọi bằng các thuật ngữ "vô thường", "vô ngã" hay 'không thường còn", với nghĩa là không tồn tại thực. "Không” mới là bản thể tối hậu (chân như), là nơi sinh ra và trở về của mọi hiện tượng, là cái thường còn, không phụ thuộc vào nhân quả, siêu vượt mọi hiện tượng. Do vậy, không thể miêu tả nó bằng khái niệm. Chỗ này rất giống với Đạo của Lão Trang ở Trung Quốc.
Thiền học phân định rõ rằng, có một thực tại tuyệt đối cần nhận thức là cái đằng sau thế giới hiện tượng, nhưng không thể diễn tả bằng khái niệm, vì đó không phải là tổng số các thuộc tính, không phụ thuộc vào điều kiện và không bị quy định. Đó gọi là thực tại phi/siêu hiện tượng, là cái tuyệt đối phổ quát, chỉ có thể tạm biểu đạt bằng khái niệm "Không" hay "Chân như” hoặc “Nhất như” nào đó. Từ nguyên lý Không, Thiền Phật giáo đã triển khai các phạm trù về nhận thức và giải thoát rất đặc thù.

2. Một số phạm trù về nhận thức
Trên cơ sở bản thể luận Không, Thiền Phật giáo đặt ra mục đích là phải nắm bắt cho được cái bản chất đích thực của thực tại tuyệt đối Không. Do vậy, Thiền học không phủ nhận khả năng nhận biết bản thể tối hậu, mà còn khẳng định rằng, "trí tuệ này không phải mới có mà đã có sẵn từ xưa, ngủ ngầm trong chúng ta..."(1).
Về hình thức, Thiền học có phần gần với chủ nghĩa hư vô và bất khả tri luận khi phủ nhận giá trị của nhận thức thông thường về thế giới hiện tượng. Thiền học xếp giá trị của nhận thức thông thường vào giới hạn "vô minh" và gọi là "trí thế gian" (Jnanalan Kikam)(2). Song, tại đây có một sự khác biệt với hai tư tưởng trên. Đó là, về thực chất, Thiền học không phủ nhận mọi khả năng nhận thức thực tại, mà chỉ phủ nhận khả năng đạt tới giá trị tuyệt đối bằng con đường nhận thức lý tính qua hiện tượng bởi cho rằng, hình thức và ngôn ngữ chính là cái bẫy, còn gọi là kiến chấp do nhận thức tạo ra và bị mắc vào. Tại đây, Thiền học đã đụng tới vấn đề tính tương đối của nhận thức trong quan hệ với đối tượng nhận thức, nhưng dù vậy, nó vẫn vạch ra khả năng nhận thức tuyệt đối được "Không" bằng việc giác ngộ một cách trực tiếp cái bản chất của thực tại, tức là vượt qua nhận thức lý tính bằng trực giác, gọi là trí Bát Nhã (Prajna Paramita).
Như vậy, Thiền Phật giáo không phủ nhận khả năng nhận thức được chân lý, nhưng lại phân chân lý thành hai mức: chân lý tuyệt đối (chân đế, Paramarthasatya) và chân lý tương đối (tục đế, Samvritisatya). Chân lý tuyệt đối chỉ có thể nắm bắt được bằng trí Bát Nhã qua thực hành thiền định, còn chân lý tương đối là cái nắm bắt được bằng nhận thức lý tính thông thường, gọi là thức (Vijnana). Thiền học cho rằng, bằng suy lý nên nhận thức luôn bị phân đôi thành chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Một khi chủ thể nhận thức càng cố gắng phân tích đối tượng thì càng giết chết đối tượng. Theo Thiền học, phân tích không phải là con đường để đạt tới thực tại Tuyệt đối. Phân tích và suy lý là con đường vô hạn chỉ tiệm cận được hiện tượng chứ không thể đạt tới bản chất đích thực. Giá trị của nhận thức lý tính chỉ là chân lý tương đối, đó chỉ là "ảo ảnh" của thế giới tuyệt đối. Do vậy, Tuyệt đối không thể diễn đạt đầy đủ bằng ngôn ngữ, kể cả các thuật ngữ "Không" mà Phật giáo phải tạm dùng.
Thiền Phật giáo thừa nhận, từ sắc pháp (sắc) lên danh pháp (thọ, tưởng, hành, thức) là trật tự tự nhiên của con đường nhận thức từ cảm tính lên lý tính. Đây chính là giới hạn cần phải vượt qua, bởi tại đó, theo Thiền học, nhận thức chỉ nắm bắt được thế giới hữu hình, thế giới hiện tượng, mà hiện tượng chỉ là các lớp ẩn vận động và biến đổi, không bao giờ là hình ảnh chân thực hay hình ảnh tuyệt đối của bản thể đích thực. Như vậy, thức không thể vượt qua được giới hạn của khái niệm, vì cái hình, tướng (sắc) mà khái niệm miêu tả được chỉ là phản ảnh ảo về sự giả hợp của hiện tượng "vô thường” chứ không phải tồn tại đích thực.
Nói tóm lại, thức không thể đột phá được bản chất và thực tính của vũ trụ, của thế giới, của "các loại không gian với các chiều khác nhau..."(3). Về bản chất, thức có thể có được bằng tích luỹ kinh nghiệm, do truyền đạt và học tập... song chỉ dừng lại ở khả năng nắm bắt, miêu tả các lớp hiện tượng. Do vậy, thức luôn phụ thuộc vào đối tượng, vào hiện tượng và vào hệ khái niệm mà nó thiết kế và sử dụng. Con đường của thức là đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn và con đường này là vô tận, vì đối tượng của nó (thế giới hiện tượng) luôn vận động và biến đổi không ngừng. Song, toàn bộ mạng lưới khái niệm và cả kinh nghiệm luôn là rào cản khiến thức mắc kẹt, không đến được bản chất tối hậu của thực tại. Thiền học khẳng định rằng, thức chỉ là sự nắm bắt, nhận thức gián tiếp, tương đối không phải là nhận thức trực tiếp, tuyệt đối và vì thế, thức không thể nào nắm bắt được bản thể tuyệt đối. Nói cách khác, thức chỉ đạt tới hiện tượng luận, chứ không thể đạt tới bản chất luận. Đây là chủ thuyết tầm phương pháp luận để từ đó, Thiền học liên tục củng cố và chứng minh một khả năng nhận thức được bản thể tuyệt đối bằng con đường siêu vượt khái niệm, siêu vượt nhận thức. Đó là lý luận về trí Bát Nhã (Prajna Paramita).
Thiền học khẳng định có thể nắm bắt được tuyệt đối bằng trí Bát Nhã (Prajna Paramita). Đây là khả năng nắm bắt thực tại trong chỉnh thể, trong thục thể bất phân, hoàn toàn khác về phương tiện, con đường, phương pháp so với nhận thức thông thường(4). Trên cơ sở này, Thiền Phật giáo chủ trương: để nắm bắt thực tại đang trong biện chứng vừa là nó lại vừa không là nó, vừa không phải là cái khác nó, thì phải tu tập thiền - định để từ bỏ (dần hoặc ngay lập tức) cách nhận thức của lý tính (bằng quy nạp hoặc diễn dịch) và từ bỏ (dần hoặc ngay lập tức) lối nhận thức theo con đường "từ trực quan đến trừu tượng”, rồi từ bỏ (dần dần hoặc ngay lập tức) phương tiện suy lý bằng khái niệm và khẳng định một trí Bát Nhã mới có thể trực tiếp nắm bắt được thực tại tối hậu không bị chia chẻ.
Con đường đạt tới trực giác mà Thiền học vạch ra là con đường nội, đảo ngược dòng nhận thức thông thường: từ bỏ hiện tượng (không), thoát khỏi khái niệm (vô niệm) để đạt tới sự thể nghiệm, hội nhập tĩnh lặng vào ý thức tự nó, tức là thức thứ bảy (Mạt na thức - Manas) và thức thứ tám (A Lại Gia thức - Alaija). Xét ở nghĩa nào đó, hai thức này tương tự với tiềm thức và vô thức trong triết học của Phrớt(5). Trí Bát Nhã là sự tự chứng của mỗi người, không phải bằng nhận thức của người khác và trong lãng quên khái niệm. Để có khả năng trực giác được tuyệt đối thì chủ thể nhận thức phải "đảo ngược hướng nhận thức và di vào nội giới và phải "quét sạch ý thức". Thao tác ngược dòng nhận thức để trục giác được chính là chu trình Thiền - định vốn được trình bày cụ thể trong các kinh thiền nguyên thuỷ của Phật giáo, như Tứ Niệm Xứ hay An Ban Thủ ý. Trong quy trình đó, chủ thể nhận thức phải làm chủ toàn bộ quá trình ý thức tâm lý, sinh lý kết hợp với đạo đức và niềm tin, như hướng dẫn trong Bát Chính Đạo: từ ý thức thiên về cảm tính (chính kiến), tới ý thức lý tính (chính tư duy), từ đó làm chủ các hoạt động cảm giác, sinh lý và tâm lý (chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh) một cách liên tục (chính tịnh tiến), để trở lại được với tâm thức tiền siêu khái niệm (chính niệm), và duy trì sự tập trung cao độ của tâm thức (chính định).
Con đường rèn luyện trực giác của Thiền Phật giáo là một chu trình nhận thức hoàn toàn ngược với nhận thức luận phương Tây. Phương Tây coi trọng con đường nhận thức từ biết chưa đầy đủ tới biết đầy đủ, từ bản chất nông tới bản chất sâu ngày càng tiến gần tới bản chất đối tượng, ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng. Trái lại, Thiền Phật giáo lại đi từ biết đến không biết, nghĩa là từ phụ thuộc vào hiện tượng tới thoát khỏi giới hạn của hiện tượng. Thiền học cho rằng, bản chất của nhận thức nằm ngoài hiện tượng. Con đường đó là "học tới vô học". Chẳng hạn, "Ba mươi năm trước, khi chưa học thiền, sư cụ thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau đó, khi bắt đầu nhiễm mùi đạo, thì thấy núi chẳng phải là núi, thấy nước chẳng phải là nước. Nay ngộ được cái lý đạo huyền vi rồi, lại y nhiên, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước"(6).
Nói chung, Thiền học không phủ nhận giá trị nhận thức và quá trình nhận thức thông thường, mà tập trung nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa nhận thức thông thường và trực giác để đưa ra khả năng nắm bắt Tuyệt đối của trực giác. Thiền Phật giáo cho rằng, thức (Vijana) chỉ nắm bắt được hiện tượng giới, tới được giá trị tương đối của chân lý, và chỉ có trí Bát Nhã mới có thể nắm bắt trực tiếp bản chất của thực tại chân thực. Song, điểm khó bàn là giá trị đích thực của trực giác đạt được bằng con đường thiền - định lại không thể kiểm chứng và đầy mầu sắc thần bí. Chân đế của Thiền Phật giáo thường mang ý nghĩa tâm linh tôn giáo, và niềm tin dường như có nghĩa lý hơn là độ chân xác. Đây chính là chỗ mà nhận thức luận Phật giáo chọn thế lùi khi đụng chạm tới vấn đề tính đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng nhận thức.
Trong thực tế sống động, Phật giáo, như một tổ chức xã hội, đang thừa hưởng nhiều thành tựu khoa học có giá trị cao là kết quả đích thực của nhận thức lý tính. Và do vậy, Thiền không dễ tuyệt đối hoá tính tương đối của nhận thức lý tính và phủ nhận giá trị của nhận thức thông thường. Song vẫn có thể nhận định thận trọng hơn rằng, các lĩnh vực tâm lý (nội tâm), tâm linh, tức là các lĩnh vực mà khoa học về con người đang còn bỏ ngỏ, sẽ là khu vực phát triển cho nhận thức luận Phật giáo hiện đại. Thiền Phật giáo đã tập trung vào một vấn đề nan giải của triết học là, bằng cách nào nắm bắt được thực tại mà không có sự phân đôi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, vì cho rằng, sự phân đôi chủ khách không cho phép nhận thức trực tiếp thực tại, vả lại, chia chẻ là giết chết thực tại. Thiền học thừa nhận có hai con đường nhận thức: hướng ngoại và hướng nội. Con đường thứ nhất là con đường của nhận thức thông thường bằng tư duy khái niệm và kinh nghiệm. Ngược lại con đường thứ hai, còn gọi là “nội quán” vượt bỏ kinh nghiệm và khái niệm. Theo con đường hướng nội, "Thiền đi con đường trái ngược và bước tháo lui… để đạt đến vũ trụ không - thời gian vô phân biệt. Thiền lui về tận cứ điểm trước khi thế giới với mọi thứ phân hai chưa bắt đầu hình thành. Có nghĩa là Thiền muốn chúng ta trực diện với một thế giới trong đó thời gian và không gian chưa xen vào để tách ra làm hai"(7).
Thiền Phật giáo nguyên thuỷ đã tiếp thu kỹ thuật tu luyện của Ấn Độ và Trung Quốc cổ về cách đạt được tâm bình lặng và khẳng định công dụng khả thi của nó là: "...nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được sự vật như chúng tồn tại… " và nguyên nhân khiến tâm không bình lặng là vì ngoại trần (tác động của thế giới khách quan) và dục vọng, cho nên tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm(8). Kinh Tứ Niệm Xứ của Phật giáo nguyên thuỷ đã nhấn mạnh: "Đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn"(9).
Đích của con đường hướng nội là đạt đến cảnh giới tam muội (Samadhi) tuyệt đối, một cảnh giới nội tâm hoàn toàn bình lặng… gọi là vô niệm… hay tịnh, chỉ… đến lúc không còn cảm giác về thân nữa, cũng không còn cảm thọ nữa, cũng không còn tưởng nữa, bởi lẽ mọi hoạt động của tâm thức đều ngưng chỉ… bình lặng nội tâm đó được gọi là trạng thái tồn tại thuần tuý. Hướng nội để luyện tĩnh tâm đã có trong kinh điển nguyên thuỷ, kinh Pháp Cú (Dharmapada, kệ 38):
Ai tâm không an trú,
không biết chân điệu pháp.
Tín bị rung động,
trí tuệ không viên thành.
Hỡi các tỳ kheo!
đây là con đường dẫn tới Niết bàn.
Đó là tâm bình lặng (Samatha) và nội quán (Vipassana).
Sự phê phán của Thiền học đối với nhận thức hướng ngoại có mức độ hợp lý nhất định. Song, giá trị đích thực của nhận thức hướng nội là gì, nó có đạt tới chân lý hay thực tại tối hậu không lại là một vấn đề chưa dứt tranh luận. Sự chiêm nghiệm trực tiếp của cá thể hướng nội, còn gọi là trực nhập, không chia sẻ, vô ngôn… có một giá trị chủ quan tuyệt đối, khó kiểm chứng. Vậy chân lý hay thực tại sống động mà trực giác hướng nội của Thiền đạt được là diều bất khả tranh luận. Đây lại là nan đề của khuynh hướng hướng nội khi Thiền Phật giáo triển khai sang các lĩnh vực khoa học tự nhiên có độ kiểm chứng xác thực.
Tuy nhiên, nhận thức hướng nội của Thiền Phật giáo cho đến bây giờ vẫn có giá trị nhất định. Trước hết, nếu đặt mục đích để rèn luyện nội tâm, làm chủ các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng… thì kỹ thuật thiền - định là một hướng khả thi đã được tâm - sinh lý học hiện đại kiểm chứng và chứng minh. Khi làm chủ được nội tâm và các dòng suy nghĩ tập trung cao độ vào một việc, con người không tốn phí năng lượng một cách tản mát mà vẫn có thể đạt được những kết quả kỳ diệu, đặc biệt trong các hoạt động sáng tạo như của khoa học cũng như nghệ thuật. Phát huy công năng hướng nội của Thiền, nhiều môn nghệ thuật phương Đông đã đạt được những thành tựu đặc biệt như là hoa trái của Thiền. Chẳng hạn như thiền hoạ, hoa đạo, trà đạo, thư pháp, võ đạo. Tuy nhiên, từ góc độ giáo lý giải thoát, Thiền học luôn cảnh tỉnh đó không phải là mục đích cuối cùng của giác ngộ.

3. Một số phạm trù về giải thoát.
Nhìn chung, các thuyết nhân bản Ấn Độ cổ đã nhận thức được con người là sinh vật có ý thức, song không luận giải nhiều về vai trò của ý thức đối với đau khổ và giải thoát của con người. Phật giáo đã tiếp thu một cách có chọn lọc các thuyết nhân bản, đặc biệt là giải thoát luận của truyền thống Ấn Độ cổ và từ đó, nêu ra một luận giải trung đạo về giải thoát.
Đương thời, Đức Phật đã phê phán hai khuynh hướng cực đoan của các thuyết “Bất diệt” hoặc "Hư không” và đưa ra thuyết Duyên sinh vô ngã để lý giải bản chất người và cách tiếp cận mới về khổ đau và giải thoát. Thuyết Duyên sinh vô ngã đưa ra nguyên lý "nguồn gốc phụ thuộc”, phổ quát của vạn vật. Thuyết này nhận định rằng, mọi vật và con người đều là sự hiện hữu tạm thời "vô thường” theo quy luật nhân quả. Con người chỉ là sự giả hợp tạm thời của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), do đó là "vô ngã" (Anatman). Cái gọi Ta/ngã chỉ là tồn tại hiện tượng trống rỗng (Sunyata). Nguyên nhân đầu tiên của mọi đau khổ là do con người mê lầm (vô minh), nhầm tưởng năm uẩn là Ngã đích thực, từ đó, luôn khởi dục vọng đối với Ngã. Dục vọng dẫn dắt ý nghĩ, hành động nên con người tạo "nghiệp" của chính mình và nghiệp lại tạo nghiệp mới, do vậy mãi trôi lăn trong vòng luân hồi. Thuyết Duyên sinh vô ngã phân tích nguyên nhân của đau khổ thành 12 chi phần, gọi là "thập nhị nhân duyên”, gồm: vô minh - hành - thức -danh sắc - lục nhập - xúc - thọ - ái - thủ - hữu - sinh - khổ uẩn.
Luận giải của Phật giáo về con đường và cách thức giải thoát bắt đầu từ nhận thức: thức chỉ là một thành phần hợp nên ngũ uẩn. Bản thân thức do duyên sinh nên cũng vô thường. Trong chuỗi nhân duyên đó, vô minh là nguồn khởi của toàn bộ khổ đau của con người. Một khi giác ngộ được lẽ vô thường và vô ngã, thì vô minh tự chấm dứt, con người sẽ thoát khỏi đau khổ luân hồi(10). Để dứt vô minh thì không thể nhờ vào thức mà phải nhờ trí Bát Nhã. Ở đây, nhận thức luận đã không tách rời giải thoát luận trong cấu trúc triết học - tôn giáo của Thiền Phật giáo.
Phật giáo đã tiếp thu có phê phán các quan điểm nhân bản của truyền thống Ấn Độ cổ và thiết kế tư tưởng giải thoát bình đẳng trên cơ sở thuyết Duyên sinh vô ngã (Paticcasamuppada). Phật giáo nguyên thuỷ chủ trương "vô ngã" để tụ giải thoát cho chính mình (tự ngộ). Sang giai đoạn Đại thừa, Long Thọ (Nagarjuna - khoảng 150 tới 250 năm sau công nguyên) tiếp tục triển khai nguyên lý Không và triển khai giải thoát luận "Trung đạo" mang tính phổ quát cao hơn. Theo ông, giác ngộ là sự giải thoát không chỉ cho chính mình (tự ngộ), mà còn cho mọi chúng sinh (giác tha). Quan niệm giác ngộ còn phân biệt có không về "ngã vô, pháp hữu” của Tiểu thừa được triệt để hoá theo nguyên lý Không thành "ngã pháp câu không", tức vứt bỏ cả ý thức phân biệt có không. Đây là mốc khẳng định Đại thừa Phật giáo và công đầu là của Long Thọ.
Niềm tin giác ngộ bằng trực giác được Phật học mô hình hoá cụ thể thành con đường tu dưỡng cá nhân. Đó chính là sự kết hợp tu luyện tâm thức (nội tâm) với đạo đức trong Bát Chính Đạo. Thiền Phật giáo lấy giác ngộ làm giới hạn của sự vượt bỏ nhận thức lý tính thông thường để trở về với trực giác Nội dung giác ngộ, tới khi xuất hiện Thiền tông đã có sự chuyển đổi, không hoàn toàn đơn nghĩa là giác ngộ về thực tại phổ quát mà thiên về ý nghĩa giác ngộ bản tâm nhưng vẫn nhất quán nguyên lý Không. Song thực tại hay bản tâm được giác ngộ đó là gì thì Thiền Phật giáo không trả lời, không miêu tả, mà trả lại cho sự chiêm nghiệm có tính cá biệt của cá nhân siêu phàm, trả lại cho sự chiêm nghiệm siêu việt phi khái niệm. Đây cũng chính là điểm dừng khi Thiền đụng tới vấn đề tính đồng nhất của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức trong luận thuyết Giác ngộ của Phật giáo.
Trên cơ sở nhận thức luận về trí Bát Nhã, Thiền học mô hình hoá hai con đường nhận thức chân lý là đột biến (đốn ngộ) hoặc tuần tự (tiệm tu). Đốn ngộ là khuynh hướng đề cao khả năng có thể ngay lập tức đồng nhất tuyệt đối với thực tại phi hiện tượng, tức là ngay lập tức đạt được giải thoát. Riêng Thiền tông chủ trương đốn ngộ, nhưng Thiền học luôn cảnh tỉnh Thiền gia không được chấp vào đốn hay tiệm, vì đó chỉ là những phương thức khác nhau để đạt tới mục đích giác ngộ. Tại đây, đốn ngộ đồng thời cỏ hai khả năng tiến triển.
Thứ nhất là khả năng đẩy vấn đề giải thoát ra khỏi phạm vi tôn giáo vì quá trình tu luyện và sự am hiểu giáo lý mất dần ý nghĩa tôn giáo ban đầu. Khuynh hướng này dễ dàng được giới trí thức chấp nhận và ứng dụng như một mô hình tu luyện nội tâm, tâm thức ngoài tôn giáo. Đây là một biến thể trong thực tiễn mà bản thân Phật giáo với tư cách một tôn giáo không hề mong muốn song nó đã xảy ra và tương đối phổ biến ở tầng lớp trí thức trung lưu hiện đại. Khuynh hướng thứ hai lại làm tăng thêm tính thần bí của Phật giáo, vì cho rằng, giải thoát hay chân lý tối hậu là sự giác ngộ cá nhân, không thể kiểm chứng. Tính thần bí của khuynh hướng này lại có giá trị tôn giáo lâu bền, và có sức thâm nhập hơn nhiều so với các tôn giáo khác. Có lẽ đây là một trong những khả năng vượt qua mọi biên giới, mọi rào cản văn hoá để hoà nhập với các nền văn minh lớn trên thế giới của Phật giáo, mà Samuel Huntington đã nhắc đến như một ngoại lệ trong Sự va chạm giữa các nền văn minh.
Như vậy, nhìn chung, giải thoát của Thiền Phật giáo vẫn là một trải nghiệm tâm linh có tính hướng nội và tính cá thể tuyệt đối nên không thể chứng minh hay bác bỏ, do vậy kết quả đạt được cũng không thể chứng minh hay bác bỏ. Có thể vì những lẽ này, Thiền Phật giáo chủ yếu phát huy sức mạnh trực giác hướng nội trong các lĩnh vực triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật... và có khả năng hấp dẫn đối với nhu cầu nhận thức nội tâm, nhưng cũng do vậy, Thiền Phật giáo không thể trực tiếp mở rộng sang các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật hiện đại. Đây chính là hạn chế của Thiền với tư một cách hệ tư tưởng triết học - tôn giáo.
Sức sống của Thiền Phật giáo một phần chủ yếu ở cách tiếp cận và cấu trúc vấn đề độc đáo của bản thể luận và nhận thức luận. Trong tương lai, giá trị độc đáo này sẽ càng được khai thác trong đối sánh với triết học phương Tây. Đây chính là nguồn năng lượng để Thiền Phật giáo có khả năng được phổ cập hoá, đa dạng hoá, hiện đại hoá trong khung cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT :Lay::Lay::Lay:

baconde
08-24-2010, 05:28 AM
dài quá <img smilieid="496" class="inlineimg" src="[Only registered and activated users can see links]" border="0"><br>

phimanh1
10-05-2010, 11:09 PM
<P>Học tâm bất động trước các pháp.</P>